Tag Archives: vonga1

Nên trở về với nền cộng hòa dân chủ theo tư duy Hồ Chí Minh – bauxite

21 Tháng 5

PGS. Đào Công Tiến

Nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP HCM

Tinh thần của nền công hòa

Tinh thần nền cộng hòa theo tư duy của Hồ Chí Minh mà chúng ta có thể cảm nhận được là:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc”.(1)

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.(2)

Theo tư duy của Hồ Chí Minh, đó là những lời bất hủ về tinh thần của nền cộng hòa, mà Người tiếp nhận được từ bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Những lời bất hủ ấy cũng đã được Hồ Chí Minh đưa vào Việt Nam qua Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Với khát vọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước, với khát vọng ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, thoát khỏi áp bức bất công cho nhân dân, Hồ Chí Minh cũng đã đến với chủ nghĩa “Tam dân”: Dân tộc độc lập – Dân quyền tự do – Dân sinh hạnh phúc, như đến với những giá trị của tinh thần cộng hòa ở phương Đông.

Mục tiêu tối thượng là giải phóng thuộc địa từ tay thực dân Pháp, giành lại độc lập cho đất nước và lợi quyền cho nhân dân, đã thúc đẩy Hồ Chí Minh đến với Lênin, qua bài viết của Lênin về vấn đề thuộc địa. Vấn đề này, ở khía cạnh giải phóng các dân tộc thuộc địa khỏi áp bức bóc lột, bất công do đế quốc thực dân gây ra, thiết nghĩ cũng không nằm ngoài tinh thần cộng hòa – là cái mà Hồ Chí Minh tìm, chọn cho Việt Nam.(3)

Tinh thần cộng hòa theo tư duy và hành động cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với việc lựa chọn chính thể cho Việt Namsau khi giành được độc lập(4) bao gồm một số nội dung cơ bản như:

-      Nền dân chủ cộng hòa

-      Sứ mệnh và tầm nhìn của nền dân chủ cộng hòa ấy là: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

-      Tất cả quyền bính là của toàn thể nhân dân, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo. Tất cả quyền bính đó, được cụ thể hóa trong 11 điều (từ điều 6 đến 16) của Hiến pháp năm 1946, đến nay vẫn còn nguyên giá trị của tính thần cộng hòa, dân chủ.

-      Tất cả công dân đều bình đẳng trước pháp luật – ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, là cơ sở pháp quyền cho sự phát triển của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.

Sự bất cập của thể chế

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ Tịch đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đó, Quốc hội đầu tiên của nước ViệtNamđộc lập được bầu ra tại cuộc tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946. Và Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được Quốc hội thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946.

Trải qua trên 65 năm, Hiến pháp năm 1946 đã qua ba lần sửa đổi vào các năm 1959, năm 1980 và năm 1992.

Hiến pháp năm 1959 – Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vẫn với chế độ chính trị là Dân chủ Cộng hòa, như Hiến pháp năm 1946 đã chọn.

Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, chọn chế độ chính trị là xã hội chủ nghĩa trong cụm từ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa thay cho Dân chủ Cộng hòa của Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959.

Vậy xã hội chủ nghĩa (XHCN) là gì mà vừa thay cho Cộng hòa Dân chủ, lại vừa gắn kết với cộng hòa trong cụm từ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa?

XHCN được đề cập ở đây là một hình thái xã hội (xã hội XHCN), mà những người phát kiến ra nó đã đưa vào đó những ý tưởng rất nhân văn, rất đáng được trân trọng. Nhưng mô thức tổ chức vận hành của hình thái xã hội XHCN cả trên góc độ lý thuyết lẫn thực tiễn, lại có không ít những nội hàm không hợp lý, quá lạc hậu, nhất là lạc hậu so với sự phát triển của xã hội hiện đại vốn mang những đặc tính cơ bản đã được sàng lọc, lựa chọn trong quá trình tiến hóa của lịch sử nhân loại, bao gồm kinh tế thị trường, sức mạnh văn hóa, xã hội dân chủ và Nhà nước pháp quyền.

Nền tảng chính trị tư tưởng và là kim chỉ nam của sự phát kiến hình thái xã hội XHCN là học thuyết Mác – Lênin. Mà nhiều kết quả nghiên cứu, lý luận và tổng kết thực tiễn cho biết học thuyết Mác-Lênin có cái trước đúng nay vẫn đúng, có cái trước đúng nay không còn phù hợp vì bối cảnh xã hội đã có quá nhiều thay đổi, có cái trước và nay đều không đúng. Đơn giản chỉ vì nó “không phải là một học thuyết đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch nào đó”, như cách nói của chính Lênin.(5)

Vì thế, mô thức tổ chức xã hội XHCN, tự thân nó có nhiều khuyết tật gây bất ổn cho hệ thống giải pháp phát triển và hoàn thiện xã hội. Những khuyết tật gây bất ổn đó đã và đang tồn tại gắn liền với một số đặc trưng cơ bản như:

Tổ chức xã hội theo thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp. Coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội. Coi Nhà nước XHCN là Nhà nước chuyên chính vô sản và trên thực tế đã không tránh khỏi tình trạng lấy vô sản chuyên chính đánh vào khối đại đoàn kết dân tộc.

Mô thức tổ chức và vận hành nền kinh tế bị chi phối hầu như tuyệt đối bởi chế độ công hữu tư liệu sản xuất (bao gồm cả ruộng đất) là nền tảng, kinh tế Nhà nước là chủ đạo và phương thức kế hoạch hóa tập trung, bao cấp thay cho phương thức thị trường. Chọn mô thức tổ chức và vận hành như thế là không phù hợp với tinh thần “lấy dân làm gốc”, không khuyến khích và tạo điều kiện cho việc phát triển mọi nguồn lực của dân từ khu vực dân doanh.

Trong khi đó, khu vực kinh tế Nhà nước, nhất là các tổng công ty và tập đoàn kinh tế lớn được quá nhiều ưu ái, giao cho quá nhiều nguồn lực (cả nguồn lực cứng lẫn nguồn lực mềm) vượt quá tầm quản lý (cả quản trị kinh doanh và quản lý nhà nước), và hệ lụy khôn lường đã và đang đến là vừa kinh doanh không hiệu quả, vừa làm vẩn đục môi trường kinh doanh, tạo quá nhiều lỗ hổng cho cạnh tranh không lành mạnh, gây lãng phí, thất thoát và tham nhũng vô phương cứu chữa.

Đảng nắm quyền lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối mọi mặt hoạt động của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, và trên thực tế quyền lãnh đạo đó đã trở thành siêu quyền lực, (có nơi có lúc là Đảng trị cộng với sùng bái cá nhân) đặt lên trên dân quyền và pháp quyền. Sự hiện hữu của siêu quyền lực như vậy không phù hợp với tinh thần đề cao dân chủ và thượng tôn pháp luật. Tập trung thái quá quyền lãnh đạo của Đảng làm cho Đảng bị tha hóa và cũng làm cho các bộ phận quyền lực khác của hệ thống chính trị nói riêng và toàn xã hội nói chung (bao gồm quyền của người dân và công dân) bị vô hiệu hóa, trở thành hữu danh vô thực. Hệ lụy đã và đang đến là, đã mất quyền thì cũng mất luôn trách nhiệm xã hội, khiến cho xã hội không có người làm chủ đích thực và trở thành chỗ dung thân hợp pháp cho thói vô trách nhiệm và vô cảm.

Mô thức tổ chức vận hành xã hội XHCN với những đặc trưng vốn hàm chứa nhiều khuyết tật gây bất ổn cho giải pháp phát triển và hoàn thiện xã hội như vậy thực sự không còn đáng được tồn tại trong sự lựa chọn thể chế chính trị mà Hiến pháp cần có.

Mô thức tổ chức vận hành xã hội XHCN như vậy cũng có khoảng cách khác biệt quá xa với tinh thần của nền cộng hòa theo tư duy Hồ Chí Minh. Do vậy, cũng không thể ghép “XHCN” đó với “cộng hòa” trong cụm từ “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa” để giữ lại cái tên nước Việt Nam là nước “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” như đã ghi trong Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992.

Hiến pháp năm 1992 so với Hiến pháp năm 1946 là một bước thụt lùi. Không có những đột phá về cải cách thể chế trong sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khó có thể có được kết quả lập hiến ngang tầm với giai đoạn phát triển mới.

Mấy kiến nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Xin nêu mấy vấn đề, cũng có thể coi là những ý tưởng muốn góp vào Hiến pháp sửa đổi:

-      ViệtNamlà một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Các dân tộc ViệtNamlà một khối thống nhất, đều bình đẳng, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, đảng phái.

-      Chế độ chính trị mà ViệtNamlựa chọn đưa vào Hiến pháp là Cộng hòa (hoặc Cộng hòa – Dân chủ hay Cộng hòa – Dân chủ – Nhân dân). Sứ mệnh với tầm nhìn xa của chính thể Cộng hòa là bảo vệ nền độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

-      Lợi quyền lớn nhất, cao nhất, kể cả quyền sửa Hiến pháp, là của toàn dân. Nghiêm cấm bất kỳ sự áp đặt lợi quyền nào khác lên trên lợi quyền của dân, do dân, vì dân.

-      Nhà nước của nước Cộng hòa ViệtNam(hoặc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay Cộng hòa Dân chủ Nhân dân ViệtNam) là Nhà nước pháp quyền tam quyền phân lập, của dân, do dân, vì dân.

-      Điều 4 của Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 đều khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo xã hội Việt Nam. Thiết nghĩ, trong Hiến pháp sửa đổi, điều này nên dành cho những quy định của Hiến pháp về Đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền phải trung thành với Hiến pháp và tuân thủ pháp luật, được nhân dân lựa chọn với những giới hạn thời gian nhất định, chịu sự giám sát, phán xét và xử lý của nhân dân theo Luật định.

-      Với tầm của Hiến pháp, cần có quyết sách đúng và rõ về chủ quyền và quyền sở hữu về đất đai.

Đất đai là tài nguyên và môi trường tự nhiên, như tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên nước, thời tiết khí hậu và đa dạng sinh học, vùng trời, vùng biển và hải đảo… thuộc chủ quyền quốc gia, Nhà nước được trao quyền quản lý, ai khai thác sử dụng phải được Nhà nước cho phép, chịu sự chế tài của pháp luật và phải nộp thuế cho Nhà nước.

Đất được đưa vào sử dụng, trở thành sản phẩm của lao động (thậm chí cả lao động cha truyền con nối), là tài sản của chủ thể sản xuất kinh doanh nhất định. Trong sản xuất nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất, là yếu tố của sản xuất, như các yếu tố công cụ khác là vật sở hữu của nông dân, không có lý gì đất ở đây không phải là vật sở hữu của nhà nông. Đất là yếu tố cấu thành tài sản trong bất động sản, vốn là một thể thống nhất không thể chia cắt được, tất yếu phải là tài sản, là vật sở hữu của chủ thể kinh doanh bất động sản.

Vì thế với tầm Hiến pháp, lần sửa đổi này cần có quyết sách đúng về chủ quyền quốc gia về tài nguyên và môi trường tự nhiên, trong đó có tài nguyên đất. Và cần có sự thừa nhận quyền sở hữu của các chủ thể sử dụng đất với tư cách là tài sản, là tư liệu sản xuất, là yếu tố của sản xuất như bao nhiêu yếu tố khác vốn đã là sở hữu của họ, trong đó có chủ thể là tư nhân (là chủ sở hữu tư nhân), có chủ thể là tổ chức xã hội (là sở hữu tập thể) và có chủ thể là Nhà nước (là sở hữu Nhà nước).

Đất đai là tài sản có chủ sở hữu rõ ràng, trong kinh tế thị trường việc dịch chuyển quyền sở hữu dưới hình thức mua bán đất là tất yếu. Nhà nước khi có nhu cầu vì quốc kế dân sinh thường phải trưng mua theo cơ chế và giá cả thị trường.

-      Mô hình kinh tế tổng quát bị chi phối bởi thể chế kinh tế nặng về công hữu là nền tảng, kinh tế Nhà nước là chủ đạo, kế hoạch hóa tập trung và bao cấp đã không còn phù hợp, thiết nghĩ phải thay đổi trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Mô hình kinh tế được lựa chọn, thay thế có những đặc trưng cơ bản là: (1) Kinh tế thị trường hiện đại; (2) Hai loại hình công hữu và tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; Ba khu vực kinh tế công, kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp; với đa dạng các chủ thể kinh doanh bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, không coi công hữu là nền tảng và cũng không coi kinh tế Nhà nước là chủ đạo, mà chỉ xác định đúng mức vai trò của Nhà nước pháp quyền đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam; (3) Thực thi dân chủ trong kinh tế, mà vấn đề cốt lõi là quyền của người dân và thực quyền kinh doanh của doanh nghiệp; (4) Liên kết hợp tác và hội nhập quốc tế.

 

Đ. C. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

 


(1) Xem Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945

(2) Xem Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945

(3) Xem “Góc nhìn khác của một học giả Nhật về tư tưởng Hồ Chí Minh” – GS. Tsuboi Yoshiharu với tham luận tại Hội thảo Quốc tế về ViệtNam học lần thứ 3 tổ chức tại Hà Nội, tháng 12-2008

(4) Xem Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

(5) Lênin: Mác – Ăng-ghen và chủ nghĩa Mác, Nhà xuất bản Tiến bộ Maxkva, năm 1976, trang 230.

Ai xúi giục thương binh quậy ở Viện NC Hán Nôm? – Bùi Văn Bồng

21 Tháng 5

AI XÚI GIỤC THƯƠNG BINH QUẬY Ở VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM?

Mấy ngày qua, dư luận trong cả nước rất bức xúc về vụ hôm 18/05/2012 một nhóm người lạ mặt tự xưng là “thương binh” đã xông vào Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội, nơi tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện làm việc, hăm dọa ông và một số nhân viên khác của Viện. Từ nhiều năm qua, trang blogger Nguyễn Xuân Diện cũng là một trong số những trang mạng nổi tiếng chống tiêu cực, bảo về công lý, phê phán những cái sai trong thực thi dân chủ… Những kẻ côn đồ càn quấy hung hăng và rất ngang nhiên đòi ông Nguyễn Xuân Diện gỡ bỏ các bài trên blog của ông, đặc biệt là thư ngỏ phản đối chính phủ Nhật viện trợ xây nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam.
         Trước hết, cần nhận rõ nơi bị bọn côn đồ ngang nhiên quậy phá là một cơ quan Nhà nước cấp Trung ương được thành lập theo quyết định của Chính phủ. Ngày 13-9-1979, Viện Nghiên cứu Hán Nôm chính thức được thành lập trên cơ sở Ban Hán Nôm, theo quyết định số 326/CP của Hội đồng Chính phủ và được tái khẳng định thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia trong Nghị định số 23/CP ngày 22/5/1993 của Chính phủ.
Đây là một cơ quan duy nhất ở Việt Nam vừa là Trung tâm bảo tồn các nguyên bản chữ Hán và chữ Nôm, vừa là Trung tâm khai thác các tư liệu chữ Hán và chữ Nôm. Xuất phát từ yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu sưu tầm thư tịch cổ, năm 1970 Ban Hán Nôm thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập, quy tụ nhiều nhà hoạt động cách mạng lão thành, các nhà nghiên cứu Hán Nôm uyên bác. Viện nghiên cứu Hán Nôm có các nhiệm vụ chủ yêu như: Bảo tồn, nghiên cứu khai thác các tư liệu Hán Nôm và đào tạo cán bộ nghiên cứu Hán Nôm được xác định; bảo tồn và giám định các nguyên bản chữ Hán chữ Nôm, sao các bản gốc thành nhiều bản để sử dụng hoặc cung cấp cho các thư viện và các cơ quan có nhu cầu; Tiến hành điều tra, thu thập các văn bản Hán Nôm và các tư liệu liên quan ở Việt Nam và ở nước ngoài, nhằm thống nhất quản lý thư tịch và tài liệu Hán Nôm trong phạm vi cả nước…

Khi bị bọn côn đồ xâm nhập cơ quan, mặc dù tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện và những người khác đã gọi công an, kể cả cảnh sát 113, tức là lực lượng cảnh sát “phản ứng nhanh”, nhưng không ai đến can thiệp. Nhưng lại nhận được câu trả lời là “bận họp”. Một lực lượng được coi là “phản ứng nhanh” mà còn vậy, thì an toàn tính mạng người dân và an toàn cho các cơ quan nhà nước, cơ quan công quyền còn biết dựa vào ai? Không hiểu sao cho đến khi nhóm côn đồ gọi là “thương binh” đó rút đi, công an mới đến.

Dư luận cũng đang yêu cầu ngành an ninh truy ra những kẻ chủ xướng vụ này. Đây là hành động rất coi thường kỷ ương luật pháp, ngang nhiên xâm phạm cả vào cơ quan Nhà nước thuộc ngành văn hóa, xâm phạm thân thể, nhà ở, nơi làm việc của công dân.
Trong khi đó, báo Cựu chiến binh Việt Nam lại đưa tin: “ Thời gian vừa qua trên trang blog cá nhân của ông Nguyễn Xuân Diện, Phó trưởng phòng quản lý thư viện Viện Hán Nôm đã đăng tải những bài viết kêu gọi người dân và các Việt kiều ký tên vào thư phản đối chính phủ Nhật Bản viện trợ xây nhà máy điện nguyên tử cho Việt Nam … Khi biết được vấn đề này, ngày 18-5-2012 một số thương binh nặng của TP Hà Nội gồm có ông Hoàng Đức Đồng, Nguyễn Sĩ Duyên, Nguyễn Tất Hùng, Chu Vinh Quang, Nguyễn Vinh Công và Quản Văn Khang đã cùng đến Viện Hán Nôm để yêu cầu ông Diện ngừng ngay những hoạt động đó lại…”.
Thực chât, về việc Nhật Bản dù đã lâu năm đầu tư rất tốn kém, thâm thủng cả vào ngân sách quốc gia để xây dựng điện hạt nhân, nhưng hiệu quả không bù nổi chi phí, lại chứa đụng những nguy có mất an toàn ở mức cao. Chính Nhật Bản, một nước KHKT tiên iến như thế, có kinh nghiệm sử dụng điện hạt nhân như thế mà buộc phải tuyên bố “từ giã hạt nhân”. Thế mà chẳng lẽ ta lại đi vào “vết xe đổ” ấy, lại nhờ Nhật xây dựng nhà máy loại này ở Ninh Thuận, nơi trên bản đồ hình chữ S ưỡn ra biển Đông nhiều nhất, nguy cơ bị sóng thần cao nhất, đang còn là tranh cãi của nhiều nhà khoa học, nhà kinh tế-xã hội, là sự đòi hỏi xem kỹ của nhiều công dân Việt Nam, không riêng ông Diện.  Và nếu như Nhật Bản mà giải tỏa được nhà máy điện hạt nhân, thứ mà họ đã quá ngán sợ, đang bỏ đi, nay lại nhập sang VN thu được ít vốn quả là quá ngon cho họ. Việt Nam ta hiện nay chưa đến mức thiếu điện. Và nếu lo xa cho sau này thì có nhiều cách làm ra điện rẻ hơn, tiện lợi và an toàn hơn điện hạt nhân (như điện mặt trời, sức gió, sóng biển, nhiệt điện-ta có lợi thế mỏ dầu mà, …), đâu phải chỉ có cách xây dựng nhà máy điện hạn nhân. Và việc lo cho dự án này sao lại phải giao cho những thương binh nặng?
Nếu như trang blog của Ts. Nguyễn Xuân Diện có bài đưa lên mạng sai với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thì đây có phải là nhiệm vụ cần phải ra tay của các cựu chiến binh, của thương binh nặng hay không? Văn bản nào, điều nào quy định thương binh được quyền tham gia vào những việc như thế này? Chính quyền địa phương, rồi các ngành Thông tin-truyền thông, Tuyên giáo, Văn hóa và công an chuyên trách bảo vệ văn hóa, bảo vệ chíh trị ở đâu mà phải đi mượn tay những thương binh nặng? Làm vậy là vi phạm chính sách đối với thương binh của QĐND Việt Nam.
Và cũng trên báo CCB Việt Nam còn đưa tin: “Công an thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Công an quận Đống Đa và Công an phường Trung Liệt khẩn trương vào cuộc điều tra, làm rõ vụ việc trên, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì khởi tố để xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Báo CCB để nghị các cơ quan chức năng xem xét và làm rõ vấn đề này, trả lại sự công bằng cho những thương binh, những người đã cống hiến xương máu bảo vệ đất nước và nay lại tiếp tục nỗ lực bảo vệ hạnh phúc và lợi ích của nhân dân”. Đúng đấy, làm sai chức năng nhiệm vụ, tự nhiên vào cơ quan nghiên cứu văn hóa cấp Trung ương quậy phá cần phải làm rõ để xử lý theo đứng pháp luật hiện hành của Nhà nước. Còn nếu như thương binh nào đó có bị đánh cũng là phản ứng tự vệ để bảo vệ cơ quan của cán bộ, nhân viên trong Viện mà thôi. Không hiểu sao báo CCB Việt Nam lai đặt vấn dề như vậy?
Côn đồ và bọn khủng bố (nói chung) là một dạng phá quấy xã hội. Đây cũng được coi là vụ rất cần cảnh tỉnh về sự xuất hiện nạn khủng bố ở Việt Nam. Cái mầm mống nguy hại và có biểu hiện ngang nhiên thách thức với pháp luật này cần phải làm cho rõ và nghiêm trị ngay, không thể để “cái sảy nảy cái ung”. Xã hội nào cũng không thể tồn tại nạn côn đồ, khủng bố. Với bản chất xã hội thường được ngợi ca tốt đep mang bản chất chủ nghĩa xã hội như ở nước ta càng không thể tồn tại cồn đồ, “xã hội đen”, bọn “đâm thuế chém mướn”, bọn khủng bố…
Bọn côn đồ, ‘xã hội đen”, nhóm hoặc phần tử khủng bố đều là biểu hiện của một xã hội mất an ninh, đe dọa đến an nguy tính mạng, tài sản của công dân, sự an toàn của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội. Vụ này không những trực tiếp liên quan, gây ảnh hưởng lớn đến trật tự xã hội mà còn báo động sự bất ổn của an ninh quốc gia, an ninh chính trị. Đó là những tội phạm xã hội. Không có một cơ quan hay tổ chức nào được phép tập hợp những phe nhóm gây rối trật tự xã hội kiểu này.
Côn đồ có khi là sự xuất hiện tự phát. Nhưng cũng có khi được coi là lực lượng “răn đe” kiểu dịch vụ, phi vụ, được một ai đó, hoặc nhóm nào đó  thuê tiền. Cho nên, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bọn này phải tìm cho ra động cơ gây rối, hăm dọa, cưỡng bức, xâm phạm thân thể, nhà ở của công dân, tìm cho kỳ được kẻ chủ mưu nấp phía sau. Côn đò chỉ là một thứ tạm gọi là “công cụ thi hành”, kẻ trực tiếp hành động, còn kẻ nấp phía sau xúi giục, thuê mướn mới là thủ phạm chính. Nếu như truy dẹp côn đồ mà không truy tận ổ kẻ chủ mưu thì coi như chỉ là “hớt ngọn”.
Người ta sử dụng bọn “đâm thuê, chém mướn” là để dùng biện pháp mượn tay vũ lực đe dọa người khác khi bản thân họ thấy bất lực, nhằm đạt mục đích mà không cần đến sự can thiệp của chính quyền địa phương (thấp nhất là tổ dân phố, tổ an ninh tự quản, tổ hòa giải cộng đồng), không cần đến pháp luật và cũng không cần đến công an.
Người ta thuê “xã hội đen”, côn đồ, nghịch tặc để đòi nợ, trả thù cá nhân, răn đe hăm dọa người khác vì nhiều mục đích khác nhau. Kẻ chủ mưu thuê mướn, kích động hung đồ gây sự mới là đáng ngại. Họ chỉ dùng đồng tiên hoặc uy quyền nào đó sai khiến. Cái vụ ông tiến sĩ Nguyến Xuân Diện bị bọn côn đồ tự xưng là “thương binh” phải chăng do phe nhóm nào đó có lợi ích trong việc xây dựng  nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận thuê để răn đe, vì nếu như bỏ dự án đó thì họ bị mất khoản thu rất lớn? Hoặc một “thế lự thù địch” nào khác? Nếu không thì ai đụng đến chuyện “quốc gia đại sự” ấy làm gì?

Thảm họa hạt nhân Chernobyl (Ukraine) – 4-1986

Trong nhiều năm qua cũng xuất hiện nhiều bọn côn đồ hành hung kiểu như vậy, kể cả trong bóng đá. Nhóm này xưng là “thương binh” càng nguy hại. Trong chế độ Mỹ-ngụy ngày xưa, nhắc dến thương-phế binh ai cũng ngán. Vì những lính ngụy bị thương không còn trong quân ngũ đã nghiễm nhiên quậy phá, tung hoành không ngán ai, gây ra nhiều vụ đau lòng cũng không ai làm gì chúng nó. Còn trong xã hội ta mà xưng là “thương binh” đi làm chuyện càn quấy càng không nên. Thương binh tàn nhưng không phế, thương binh phải giữ phẩm chất “bộ đội Cụ Hồ”. Việc mấy tay côn đồ xưng là “thương bình” lại ngang nhiên hùng hổ đén quậy một cơ quan cấp Trung ương ngay giữa Hà Nội, lại rơi vào ngày 18-5, đúng dịp kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự cố tình “bôi tro trá trấu” vào danh hiệu “bộ đội Cụ Hồ”, một bản chất truyền thống đã được nhân dân ca tụng lâu nay.
Làm rõ vụ này tất nhiên phải là ngành chức năng công an, nhưng không thể “khoán trắng” cho riêng công an, mà trước hết phải là trách nhiệm của chính quyền thành phố Hà Nội, của quận Đống Đa, và đây cũng là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, ngành Lao động-Thương binh và Xã hội (thanh tra ngành này cần làm rõ những “thương binh” đó là ai, ở đâu để có biện pháp xử lý, không thể “bình chân như vại”), rồi trách nhiệm của hội Cựu chiến binh, cũng nên có sự can thiệp cần thiết của Bộ tư lệnh Thủ đô, trực tiếp là ngành điều tra hình sự, thanh tra và ngành chính sách thuộc cơ quan chính trị Bộ tư lệnh Thủ đô và BCH quân sự quận Đống Đa.
Viện nghiên cứu Hán Nôm là là một tổ chức thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, hiện nay là nơi bảo quản, lưu trữ và nghiên cứu các di sản Hán Nôm gồm những thư tịch và liệu viết bằng chữ Hán, chữ Nôm. Vậy trong đấu tranh chủ quyền biển –đảo hiện nay, bọn tự xưng là “thương binh” này có liên quan gì không, ai sai phái? Biết đâu đây là cú “thăm dò” để Viện nghiên cứu Hán Nôm, và những cơ quan chức năng, chuyên môn tương tự, còn phải chịu nhiều sự rình rập, nhòm ngó khác (Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đang giữ trọng trách quyền Giám đốc Thư viện Hán Nôm tại đây, vậy nơi đây có gìn giữ những Mộc bản về chủ quyền biển-đảo từ triều Nguyễn hay không?). Và do đó, vụ này không chỉ liên quan đến Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện mà còn là việc liên quan đến bảo vệ bí mật các tài liệu Nhà nước, liên quan trực tiếp đến vấn đề di sản văn hóa dân tộc.
Cho nên, rất nhiều cơ quan từ Trung ương đến Bộ, ngành phải nhanh chóng làm cho rõ vụ việc hệ trọng này. Không thể “để lâu cho trầu ra bã” rồi bị “chìm xuồng” như bao vụ việc nghiêm trọng khác.
                                                                             Bùi Văn Bồng
—————————-

TƯỜNG TRÌNH CỦA TS. NGUYỄN XUÂN DIỆN:
… “Khoảng độ tám rưỡi sáng 18/05/2012 một nhóm người lạ mặt tự xưng là “thương binh” đã xông vào phòng làm việc của tôi ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm để hăm dọa một cách thô bạo. Họ xưng là đại diện cho thương binh nặng của thành phố Hà Nội lên phòng của tôi gặp tôi, và nói rằng họ ở Cục Thương binh. Ngay từ phút đầu họ đã dùng những lời lẽ rất là côn đồ, và đe dọa, uy hiếp tinh thần tôi. Họ gào lên và nói những lời vô cùng khiếm nhã, thậm chí còn tụt quần nằm tơ hơ giữa phòng làm việc trước mặt lãnh đạo Viện và tôi. Những người này đã đòi tôi phải gỡ bỏ bài viết “Thư gửi Chính phủ Nhật Bản, phản đối việc viện trợ VN xây nhà máy điện hạt nhân”.

Họ nói rằng họ phản đối việc tôi đã đăng bức thư phản kháng lại vụ chính phủ Nhật viện trợ cho Việt Nam để xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Họ nói việc làm cái thư như thế này là không đúng, hiện nay Việt Nam đang thiếu điện thì không thể phản đối dự án này. Theo họ thì trong số 10 tỉ đô la viện trợ xây dựng nhà máy điện hạt nhân là có phần của họ trong đó… Họ yêu cầu là phải gỡ bỏ văn bản đó ra khỏi blog cá nhân, và đề nghị với cơ quan Viện Hán Nôm thu giữ máy tính, xử lý kỷ luật, vân vân.

Sau khi sự việc xảy ra được khoảng nửa tiếng thì lãnh đạo Viện của tôi có đến và lập biên bản, cùng làm việc. Đến 11 giờ thì họ ra về. Hiện nay tôi vẫn đang làm việc ở Viện Hán Nôm bình thường.
Tôi thì thấy rất là nghi ngờ cái chuyện này, vì họ không có liên quan gì đến nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam này cả. Theo như một số người nhận định, thì đây có thể hoặc là một sự chỉ đạo, hoặc là một sự thuê mướn gì đó đối với những người này để họ đến tấn công, uy hiếp tinh thần tôi ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Ngay khi sự việc xảy ra thì chúng tôi – trong đó có cả cụ bà Lê Hiền Đức – đã gọi điện cho công an phường Trung Liệt là nơi cơ quan tôi đóng trụ sở. Rồi thì công an quận Đống Đa, cảnh sát 113 vân vân, và gọi rất nhiều lần nhưng không thấy lực lượng công an xuất hiện. Mãi đến tận khi sự việc đã xong rồi, những người « thương binh » đó đã ra về hết rồi thì mới thấy công an đến.
16 giờ 7 phút chiều, thì mới có hai chiến sĩ, hình như là an ninh của phường Trung Liệt đến để hỏi chuyện một số nhân viên của Viện. Một số bạn bè của tôi quan sát thì thấy rằng ngay từ khoảng chín rưỡi, mười giờ, lúc sự kiện nóng đang xảy ra thì đã trông thấy những chiến sĩ công an đến Viện tôi rồi. Nhưng không hiểu tại sao họ không xúc tiến làm việc trong chuyện này.
Họ có uy hiếp rất là ghê gớm, nhưng mà họ chưa động chạm đến thân thể tôi. Những người đó cũng có xấn xổ xông đến những nhân viên của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, khi họ đến để chứng kiến sự việc cũng như để bảo vệ cho sự an nguy của tôi. Có một người trong nhóm thương binh đó đã đập vỡ một cái cốc, và cầm một cái bình cứu hỏa lên định đánh vào một nhân viên thư viện, nhưng may quá cả hai cú đánh đó nhân viên của tôi đều tránh được cho nên không có thương tích gì. Cuối cùng họ cũng yêu cầu là gỡ bỏ cái thư kêu gọi chính phủ Nhật Bản không viện trợ cho Việt Nam xây dựng nhà máy điện hạt nhân.
Tôi vẫn đang nghe ngóng tình hình. Tôi nghĩ nếu như mà dự án điện hạt nhân do chính phủ Nhật có ý định tài trợ cho Việt Nam có những điều bất hợp lý, nguy hiểm đến an sinh xã hội, đến vận mạng của nhiều người dân, thì chính phủ và nhà nước Việt Nam cũng sẽ xem xét những mặt bất lợi, những nguy hiểm của nhà máy này, qua hàng loạt những bài viết và các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả trong và ngoài nước.
Và tôi nghĩ, nếu cái thư đó được chuyển tới ông Thủ tướng Nhật Bản, thì chính phủ Nhật cũng sẽ xem xét thư đó cũng như các tài liệu liên quan, để đưa ra những quyết định cuối cùng về việc có giúp Việt Nam xây dựng nhà máy điện nguyên tử trong thời gian hiện nay hay không. Được biết hơn 50 nhà máy điện hạt nhân ở Nhật cũng đã đóng cửa sau sự kiện nhà máy điện nguyên tử Fukushima bị sự cố trong đợt sóng thần năm ngoái.
Sau khi sự việc bắt đầu xảy ra khoảng nửa tiếng, thì người thân và bạn bè của tôi đã kéo đến Viện Hán Nôm, với sự có mặt của cụ Lê Hiền Đức, cụ Nghiêm Ngọc Trai, đại tá Nguyễn Đăng Quang, GS Ngô Đức Thọ, nhà văn Phạm Viết Đào, LS Trần Vũ Hải, các anh chị Lê Dũng, Đào Tiến Thi, Việt Dũng, Việt Hưng, Dũng Mai, Lân Thắng, Phạm Chính, Phương Bích, Quỳnh Hương, JB Vinh, Nguyễn Tường Thụy, Phan Trọng Khang, Nguyễn Chí Đức, Trương Dũng, Nguyễn Văn Phương, Người Hà Nội, Trần Sơn, Ngọc Ánh …và rất nhiều người khác. Lãnh đạo Viện Hán Nôm, mặc dù đang có cuộc làm việc với đối tác, đã thu xếp công việc để chứng kiến ghi nhận vụ việc và xử lý tình huống. Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hán Nôm yêu cầu lập biên bản ghi nhận rõ ràng sự việc. Sau khi biên bản lập xong, những người “thương binh” ra về, Ông Viện trưởng mời những người thân và bạn bè của tôi vào trong phòng để lắng nghe thêm ý kiến của họ (với phát biểu của Cụ Lê Hiền Đức, GS Ngô Đức Thọ và anh Vinh).
Điện thoại bàn của gia đình tôi bị cắt (cho đến 14h00 ngày 18.5 thì mới thấy có tín hiệu trở lại, mặc dù không báo hỏng với nhà cung cấp); máy bàn ở cơ quan chiều ngày 17 vẫn liên lạc bình thường nhưng đến sáng 18.5 thì không có tín hiệu gì”.
                                                                                                    NXD
———————-

2 nhận xét:

  1. Xin chia buồn với TS Nguyễn Xuân Diện.Người ta đối xử với trí thức như thế thì còn biết nói gì hơn nữa! Bài viết của anh BVB đã phân tích rất cặn kẽ rồi.

    Trả lờiXóa

  2. Thương binh có chính sách của nhà nước, đã thương binh là nghỉ việc để hưởng chế độ, và có chăng thì tham gia Hội Cựu chiến binh và các hoạt động ở địa phương, làm gương để đúng với phẩm chất chất “bộ đội Cụ Hồ”. Không có ai “phân công nhiệm vụ”, sử dụng lực lượng thương binh vào các hoạt động kiểu “xã hội đen” này. Nhất là thương binh nặng-như báo CCB đưa tin. Vụ này, những thương binh xông vào Cơ quan Nhà nước như vậy là bậy lắm rồi. Tác giả bài viết đã phân tích rất sâu sắc, rất đúng. Chính quyền và các cơ quan chức năng ở Hà Nội, ở quận Đống Đa, cần phải làm rõ và rút kinh nghiệm ngay về vụ này. Nếu không thì đây là cái mầm loạn, rối xã hội không còn ra thể thống gì nữa!

    Trả lờiXóa

Không gian chiến lược xung quanh Trung Quốc đang bị thách thức – NCBĐ

21 Tháng 5

Sự trỗi dậy và lối hành xử quá quyết đoán trong vấn đề lãnh thổ của Trung Quốc đang khiến cho các quốc gia xung quanh không ngừng nâng cao cảnh giác, đặc biệt là sự trở lại châu Á của Mỹ đang là nhân tố gắn kết các quốc gia này đối phó với Trung Quốc. Điều này liệu đang khiến cho không gian chiến lược của Trung Quốc bị co hẹp?

 

Từ căng thẳng giữa TQ và PLP về chủ quyền tại đảo Scarborough/Hoàng Nham, tranh chấp tại Biển Đông giữa TQ và VN, đến việc CTN/TQ Hồ Cẩm Đào từ chối tiến hành hội đàm song phương với TTg NB Yoshihiko Noda tại Hội nghị Thượng đỉnh Trung - Nhật - Hàn vừa qua vì vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku, có phân tích cho rằng, không gian sinh tồn của về chiến lược xung quanh của TQ đang bị đe dọa, ngoại giao xung quanh của TQ hiện đang đối mặt với những thách thức to lớn, trong khi việc chuyển dịch chiến lược sang phía Đông của Mỹ.

Chuyên gia Viện Nghiên cứu CÁ - TBD Viện KHXH TQ Đỗ Kế Phong cho rằng, cách giải thích tầu ngầm hạt nhân của Mỹ neo đậu tại PLP vào thời điểm này không liên quan đến sự kiện đảo Scarborough/Hoàng Nham là “không ổn”. Trước đây, hạm đội tầu chiến của Mỹ thường neo đậu tại những khu vực không phải là điểm nóng như Singapore, Hồng Công… nhằm tránh những nghi ngờ không cần thiết. Hơn nữa, sau năm 1992, tầu ngầm của Mỹ cũng chưa bao giờ đỗ tại vịnh Subic, việc Mỹ lựa chọn thời điểm nhạy cảm này là có ý đồ đặc biệt. Trong sự kiện Scarborough/Hoàng Nham, rõ ràng Mỹ đứng về phía PLP.

Đỗ Kế Phong nói, trước đây Mỹ thường thông qua các cuộc gặp hoặc phát biểu của NT, BT Quốc phòng để bày tỏ sự ủng hộ PLP về chính trị. Nhưng lần này Mỹ lựa chọn cách đưa tầu ngầm hạt nhân đến neo đậu tại cảng của PLP, đồng thời cho biết cuối tháng này sẽ bàn giao chiếc tầu tuần tra thứ 2 cho phía PLP chính là thể hiện sự ủng hộ PLP về mặt quân sự, chuyển từ việc ủng hộ bằng chính trị lời nói sang ủng hộ bằng hành động quân sự, sự ủng hộ này đã được nâng cấp thêm một bước.

Đỗ Kế Phòng cho rằng, rõ ràng không gian sinh tồn về chiến lược xung quanh của TQ đang bị Mỹ và các nước đồng minh lấn ép, bao gồm vấn đề hạt nhân BTT bị trì hoãn không được giải quyết, tranh chấp không ngừng giữa TQ và NB về vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku, xung đột về vấn đề ngư dân với Hàn Quốc liên tục xảy ra. Mặt khác, một số quốc gia vốn được xem là hữu hảo nay cũng bắt đầu điều chỉnh quan hệ đối ngoại, từng bước tiếp xúc với Mỹ và các nước phương Tây, thể hiện rõ ràng nhất là Myanmar. Những động thái này đã đạt ra những thách thức cao hơn đối với trí tuệ ngoại giao của TQ.

Giáo sư Thời Tuấn Hồng của Học viện QHQT Đại học Nhân dân TQ bày tỏ, gần đây một số nước xung quanh liên tiếp thách thức TQ về vấn đề lãnh thổ, việc chuyển chiến lược sang phía Đông của Mỹ có thể nói là một trong những nguyên nhân chính.

Về việc TQ phải đối phó như thế nào, Đỗ Kế Phong cho rằng, TQ trước tiên cần xuất phát từ chiến lược ngoại giao tổng thể, có những tính toán chiến lược, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế của các nước, giải quyết trước tiên các vấn đề nóng bỏng nhất, sau đó từng bước giải quyết các vấn đề còn lại.

Theo Văn Hối

Trần Quang (gt)

Thư gửi Ngài Jerril Galban Santos, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Philippines tại Việt Nam – bauxite

21 Tháng 5

Boxitvn

Bản tiếng Việt:
.

Kính gửi Ngài Jerril Galban Santos,

Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòaPhilippinestại ViệtNam,

27B Trần Hưng Đạo, Hà Nội

Kính thưa Ngài Jerril Galban Santos,

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, đại diện cho bản thân và cho ý kiến của nhiều công dân Việt Nam khác, theo dõi với mối quan tâm chặt chẽ các sự kiện đang xảy ra tại Panatag Shoal (Scarborough Shoal) trên Biển Tây Philippines (theo cách gọi của Philippines)/Biển Đông (theo cách gọi của Việt Nam), và bày tỏ ý kiến của mình như sau:

 

1.     Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ quyền chủ quyền và các hành động bảo vệ quyền chủ quyền của nước Cộng hòaPhilippinestrong khu vực Panatag Shoal.

2.     Chúng tôi kiên quyết phản đối Trung Quốc áp đặt “đường chín đoạn” không có cơ sở lịch sử và pháp lý vào Biển Tây Philippines/Biển Đông nhằm chiếm đoạt bất hợp pháp vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines, Việt Nam và các nước ASEAN khác. Chúng tôi cực lực phản đối các hành động bất hợp pháp, đe dọa dùng vũ lực của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp ở Panatag Shoal.

3.     Chúng tôi ủng hộ yêu cầu củaPhilippinesđưa tranh chấp ở Panatag Shoal ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS). Chúng tôi ủng hộ tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam vào ngày 25/4/2012, mong muốn “các bên liên quan cần kiềm chế, giải quyết hòa bình các tranh chấp [tại Panatag Shoal] trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).”

4.     Chúng tôi kêu gọi các chính phủ và công dân các nước ASEAN có những hành động cụ thể nhằm đoàn kết với và giúp đỡ Philippines bảo vệ quyền chủ quyền trong khu vực Panatag Shoal cũng như quyền chủ quyền của mỗi nước và của cả khối ASEAN theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

5.    Chúng tôi long trọng tuyên bố rằng những đòi hỏi của Trung Quốc tại Biển Tây Philippines/Biển Đông thông qua đường chín đoạn chữ U phi pháp là một nguy cơ cho việc hợp tác hòa bình và phát triển bền vững của Đông Nam Á.  Để tìm lại ổn định và để bảo đảm tự do giao thông hàng hải trên Biển Tây Philippines/Biển Đông, chúng tôi đòi hỏi chính quyền Bắc Kinh từ bỏ tham vọng phi lý tại Biển Tây Philippines/Biển Đông.

Sự nghiệp chính nghĩa của chính phủ và nhân dânPhilippinesnhất định thắng lợi.

Hòa bình và chủ quyền củaPhilippinescho khu vực Panatag Shoal!

Kính chúc sức khỏe Ngài Đại sứ.

Trân trọng,

1. Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ CHXHCN ViệtNamtại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

2. GS TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá – Giáo dục – Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội  CHXHCN ViệtNam

3. Nguyên Ngọc, nhà văn ViệtNam

4. Bùi Ngọc Tấn, nhà văn ViệtNam

5. Thanh Thảo, nhà thơ ViệtNam

6. GS TS Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt

7. GS Nguyễn Huệ Chi, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học ViệtNam

8. Phạm Toàn, nhà giáo ViệtNam

9. GS TS Nguyễn Thế Hùng, Đại học Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội thủy học cơ khí ViệtNam

10. GS Chu Hảo, Giám đốc nhà xuất bản Tri thức Hà Nội

11. TS Y khoa Nguyễn Đình Nguyên, Garvan Institute of Medical Research Sydney, Australia

12. PGS TS Hoàng Dũng, Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

13. Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

14. Nguyễn Bá Dũng, Kỹ sư Hà Nội

15. Phạm Hoàng Quân, nhà nghiên cứu độc lập TP Hồ Chí Minh

16. Hoàng Hưng, nhà thơ ViệtNam

17. GS Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học ViệtNam

18. TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS ViệtNam

19. Nguyễn Ngọc Giao, dạy học, viết báo,Paris

20. Thái Văn Cầu, Chuyên gia Khoa học Không gian, Mỹ

21. TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Hán Nôm ViệtNam

22. Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu Biển Đông và hải đảo ViệtNam

23. TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, (Central Institute of Economic Managment, CIEM), Hà Nội, ViệtNam

24. GS TS Hoàng Tụy, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Toán học ViệtNam

25. GS TS Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư danh dự thực thụ Đại học Liège, Bỉ

26. TS Tô Văn Trường, chuyên gia tài nguyên và môi trường ViệtNam

27. Hà Sĩ Phu, Tiến sĩ, Đà Lạt

28.  Đặng Thị Thanh Biên, hưu trí, Đà Lạt

29. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP  HCM

30. Mặc Lâm, nhà báo hiện cư ngụ và làm việc tại Hoa Kỳ

31. Mai Thái Lĩnh, nhà giáo hưu trí, nhà nghiên cứu, Đà Lạt, Lâm Đồng

32. Huỳnh Nhật Hải,  cán bộ hưu trí, Đà Lạt, Lâm Đồng

33. Huỳnh Nhật Tấn, Cán bộ hưu trí, Đà Lạt, Lâm Đồng

34. Hạ Đình Nguyên, TP Hồ Chí Minh

35. KTS Trần Thanh Vân, Hà Nội

36. PGS TS Đặng Ngọc Lệ, Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học TP HCM, TP HCM

37.  Trần Thị Khánh, Biên tập viên, TP.HCM

38. TS Nguyễn Thị Từ Huy, TP.HCM

39. Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Quốc hội CHXHCN ViệtNam, TP HCM

40. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM

41. Cao Lập, Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975, TP HCM

42. Trần Minh Thảo, viết văn, Lâm Đồng

43. TS Đặng Thị Hảo, nguyên Phó ban Ban Văn học Cổ trung đại Viện Văn học ViệtNam, Hà Nội

44. TS Vũ Quang Việt, nguyên chuyên gia kinh tế Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ

45. GS TS Nguyễn Đình Cống, nguyên Chủ nhiệm Khoa Xây dựng, Đại học Xây dựng Hà Nội

46. Nguyễn Đức Hiệp, Chuyên gia khí quyển,Australia

47. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục giáo phận Vinh, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình, ViệtNam

48. Nguyễn Chí Thanh Long, Beach Corporation, ViệtNam

49. GS TS Trần Văn Thọ, Giáo sư Đại học Waseda, Nhật Bản

50. Trần Đức Quế, hưu trí, Hà Nội

51. Tạ Văn Tài, Luật sư, nguyên  giảng sư, hiện là research fellow, HarvardLawSchool, Hoa Kỳ

52. Nghiêm Phương Mai, chuyên ngành Sinh học và Giáo dục (biologist & educator),Canada

53. Lê Hiếu Đằng, Luật gia, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc ViệtNam

54. Tiến sĩ, Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên, nguyên Đại biểu Quốc hội CHXHCN Việt Nam

55.  Lê Công Giàu, nguyên Tổng Thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư TP HCM (ITBC)

56.  Nguyễn Phú Yên, nhạc sĩ, TP HCM

57.  Hồ Hiếu, nguyên Uỷ viên lực lượng thanh niên, sinh viên tranh thủ dân chủ Đà Lạt trước 1975, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Thành uỷ TP HCM

58. Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Vật lý, CNRS và Đại học Paris VI, Pháp

59. Hà Dương Tường, nguyên giáo sư Đại học Công nghệ Compiègne, Compiègne, Pháp

60. Tống Văn Công, nhà báo, TP HCM

61. Mai Hiền, nhà báo, TP HCM

62. Đỗ Đăng Giu, nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS, Đại học Paris Sud, Pháp

63. Phan Hoàng Oanh, tiến sĩ, giảng viên, TP HCM

64. Hà Thúc Huy, PGS.TS. Đại học Khoa học – Đại học Quốc gia TP HCM

65. HuyDuong,United Kingdom

66. Đỗ Minh Tuấn, Nhà thơ – Đạo diễn, Hà Nội

—-
.
Bản tiếng Anh:
.

To His Excellency Jerril GalbanSantos,

Ambassador Extraordinary and Plenipotentiary of the Republic of Philippines toVietnam,

27B Tran Hung Dao,Hanoi

Your Excellency,

We, the undersigned, reflecting the opinions of many other Vietnamese, have followed closely and with great concern the events at Panatag Shoal (Scarborough Shoal) in the waters known as the West Philippines Seain the Philippines and the East SeainVietnam.

We wish to convey to you and your people the following message:

1. We fully support the sovereign rights of thePhilippinesin the Panatag Shoal area and thePhilippines’s actions to defend her sovereign rights.

2. We resolutely oppose China’s attempts to use its “nine-dashed line”, which is completely without historical or legal basis, to encroach on the Exclusive Economic Zones and continental shelves of thePhilippines,Vietnamand other ASEAN countries. We strongly opposeChina’s illegal actions and threats of force in the Panatag Shoal dispute.

3. We support the Philippines’ proposal to submit the dispute at Panatag Shoal to the International Tribunal for the Law of the Sea (ITLOS). We support the statement by the Vietnamese Foreign Ministry spokesperson on 25 April 2012 expressing hopes that “both sides will restrain themselves and settle peacefully the issue in compliance with international law, in particular the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) and the Declaration on the Conduct of Parties in the East Sea (DOC).

4. We call on the governments and citizens of all ASEAN countries to take concrete actions to show solidarity with thePhilippines, to assist her in the defense of her sovereign rights in the Panatag Shoal area, and to defend the sovereign rights of each and every ASEAN country as affirmed in UNCLOS.

5. We solemnly declare thatChina’s illegal “nine-dashed line” constitutes a threat to peaceful cooperation and sustainable development inSoutheast Asia. To re-establish stability and ensure freedom of navigation in the West Philippines Sea/East Sea, we demand thatChinagives up its absurd maritime claims in these waters.

The just cause of the government and people of the Philippines will prevail.

Peace and Philippine sovereign rights for the Panatag Shoal area!

Yours faithfully,

Signatories:

Hai sai lầm lớn của Trung Quốc trong xử lý vụ Scarborough – NCBĐ

21 Tháng 5

Hai sai lầm của Trung Quốc (chỉ lặp đi lặp lại các tuyên bố ngoại giao mà không đưa ra được giải pháp giải quyết thực chất vấn đề; và không nắm bắt tốt cơ hội để chiếm ưu thế) đã khiến cho tình hình căng thẳng Scarborough dai dẳng đến nay. Trung Quốc có trách nhiệm khi để tình hình leo thang và cần phải nhân cơ hội này để “dứt điểm” vấn đề.

Theo trang tin “Đa Chiều” (Hồng Công) ngày 13/5, sự kiện đảo Scarborough đã kéo dài hơn 1 tháng, Chủ tịch Thượng viện Philíppin Juan Ponce Enrile vẫn kích động dân chúng dùng vũ lực chống lại Trung Quốc. Phát ngôn viên của Chính phủ Philíppin vẫn kiên quyết kiến nghị đưa vụ tranh chấp bãi đá ngầm Scarbourough ra trọng tài quốc tế như là biện pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề. Bất chấp Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra “thông điệp cuối cùng”, tình hình vẫn không có gì thay đổi, đối đầu vẫn dai dẳng.

Giới quan sát cho rằng những “động tác nhỏ” không ngừng của Philíppin là nguyên nhân chủ yếu khiến đối đầu không được giải quyết đến nơi đến chốn, song phải thừa nhận rằng hành vi của Trung Quốc trong 1 tháng qua chưa hoàn toàn đúng, Bắc Kinh cũng phải chịu trách nhiệm nhất định khi để tình hình diễn biến như hiện nay.

Thứ nhất, từ khi Trung Quốc và Philíppin đối đầu ngày 10/4, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã 16 lần ra thông cáo báo chí trả lời về vụ việc. Xét về ngôn từ, nội dung chủ yếu mà Trung Quốc đề cập chẳng qua chỉ là cách nhìn đối với các động tác của Philíppin hiện nay, đồng thời thể hiện lập trường và hy vọng của Trung Quốc. Trong số đó, Trung Quốc có 9 lần chỉ ra rằng nguyên nhân vụ việc là do Philíppin gây ra, 8 lần nhắc lại Trung Quốc có chủ quyền, 4 lần giải thích Trung Quốc tại sao có chủ quyền. Ngoài việc phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 18/4 yêu cầu Philíppin rút tàu thuyền về, Trung Quốc chưa hề đưa ra biện pháp của mình trong việc giải quyết thực chất vấn đề.

Đối mặt với những “động tác nhỏ” nhất quán của Philíppin, thái độ của Trung Quốc lặp đi lặp lại quá nhiều mà không mang ý nghĩa mới mẻ nào, càng không có biệp pháp đối phó với việc Philíppin không thực hiện cam kết hoặc không đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc.

Ngược lại, trong cuộc tranh giành bãi đá ngầm Scarbourough, Philíppin có rất nhiều biện pháp, cầu cứu viện trợ từ Mỹ, thay tên, loại bỏ tiêu chí của Trung Quốc trên đảo, đưa vụ việc ra Tòa án quốc tế… Đối mặt với thách thức từ Philíppin, sự đáp trả của Trung Quốc luôn là “không chấp nhận”, song lại không có biện pháp “không chấp nhận” nào được thực thi cụ thể. Theo thông lệ, Trung Quốc từ sớm nên có phương án dự phòng xung đột trong tranh chấp bãi đá ngầm Scarbourough, trong đó bao gồm cả đối đầu và chiến tranh.

Thứ hai, Trung Quốc đã bỏ lỡ thời cơ tốt để giải quyết xung đột khi Philíppin đụng chạm đến giới hạn cuối cùng của Trung Quốc. Thái độ của Trung Quốc trong tháng qua không chỉ là lặp đi lặp lại những cái cũ mà thái độ này không hề có sự phân biệt khác nhau trước mỗi hành động của Philíppin. Có thể khẳng định rằng khi bắt đầu đối đầu với Trung Quốc, Philíppin trên thực tế đã sớm biết lập trường của Bắc Kinh. Giới hạn đỏ về chủ quyền mà Trung Quốc tuyên bố không phải là được vạch ra sau khi hai bên đối đầu. Cũng như vậy, cách nói của Philíppin trong việc yêu cầu Tòa án quốc tế giải quyết vụ tranh chấp cũng không phải bây giờ mới đưa ra lần đầu. Sau khi xảy ra đối đầu, Philíppin không hề nói cần giải quyết đối đầu thế nào, mà một mực yêu cầu Tòa án quốc tế giải quyết, đồng thời tuyên truyền Trung Quốc là bên chịu trách nhiệm. Có thể thấy Philíppin đang muốn đi đến cùng, nói cách khác là nếu Tòa án quốc tế không đứng ra giải quyết, Philíppin sẽ đối đầu đến cùng.

Cuộc đối đầu này cho thấy Philíppin rõ ràng không muốn “hợp xướng” với Trung Quốc, song tại sao Trung Quốc vẫn cứ muốn phối hợp với Philíppin? Trung Quốc nhiều lần nhấn mạnh Philíppin không được mở rộng vụ việc, song Philíppin vẫn không ngừng có “động tác nhỏ”. Trong vụ đối đầu hiện nay, Trung Quốc trước sau yêu cầu Philíppin rút tàu thuyền về, việc làm này giống như yêu cầu khách ra khỏi nhà mình. Trước việc Philíppin tái điều tàu thuyền tăng viện, Trung Quốc lẽ ra cần quyết đoán ngăn chặn các tàu thuyền công vụ của Philíppin tới vùng biển của Trung Quốc.

Phát ngôn viên báo chí của Trung Quốc luôn bày tỏ hy vọng rằng Philíppin sẽ không để vụ việc phức tạp hóa hay quốc tế hóa, điều này cho thấy mục tiêu ban đầu của Trung Quốc trong vụ việc này là không muốn mở rộng vấn đề. Ngược lại, Philíppin ngay từ đầu đã điều tàu hải quân tới đối đầu, Trung Quốc lẽ ra cần phải nắm bắt sai lầm này của Philíppin, nắm chắc tất cả cơ hội tốt để giải quyết vấn đề, kết thúc đối đầu.

Cuộc đối đầu Trung Quốc-Philíppin hiện đã kéo dài hơn 1 tháng. Vụ việc đã xảy ra, điều mà Trung Quốc lẽ ra có thể làm được là kịp thời ngăn chặn, không thể bị Philíppin dắt đi. Có thể nói rằng Trung Quốc vừa không có phương án mới, vừa không chủ động trong giải quyết vấn đề. Là bên chủ động có đầy đủ lý lẽ, Trung Quốc có trách nhiệm không thể chối bỏ khi để tình hình leo thang như hiện nay.

Theo Đa Chiều

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: tin tuần từ 14-20/5/2012 – NCBĐ

21 Tháng 5

 dinh tuan anh

-(TT 18/5) Manila: “Cùng hưởng lợi, nhưng không được xâm lấn”: Các nhà hoạt động Philippines tuyên bố sẽ tới bãi cạn Scarborough để phản đối việc Bắc Kinh đơn phương tuyên bố chủ quyền và cấm đánh cá ở bãi cạn này; (Gd 18/5) Biển Đông: Thêm động thái căng thẳng, tướng TQ dự báo 30% đụng độ

-(VOV 18/5) Trung Quốc muốn giải quyết tranh chấp với Philippines bằng ngoại giao: Philippines đã từng đề nghị đưa vấn đề này ra Toà án Quốc tế về Luật Biển, nhưng Trung Quốc từ chối tham gia; (Vnmedia 18/5) Tàu Philippine thách thức lệnh cấm của Trung Quốc

-(Sggp 18/5) Hội nghị ASEAN – Mỹ: Giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại: Theo thông báo của Bộ Ngoại giao Philippines, hội nghị lần này sẽ tổng kết tiến trình hợp tác giữa Mỹ và ASEAN cũng như trao đổi các quan điểm về phát triển quốc tế và khu vực; (Vnmedia 18/5) Trung Quốc lộ chiến thuật độc chiếm Biển Đông

-(Phunutoday 18/5) Phá thế cờ hiểm Trung Quốc đang giăng trên biển Đông: Sách lược của Trung Quốc như một nước cờ hiểm hóc, khó đối phó làm cho các nước có tuyên bố chủ quyền trên biển Đông lo ngại; Đánh Philippines là ý tưởng của tướng Trung Quốc thích chơi game?

-(TN 18/5) Bắc Kinh tăng cường tàu hải giám: Cơ quan Tuần dương Trung Quốc vừa cho biết sẽ tăng thêm 36 tàu hải giám vào năm 2013 đến các vùng biển mà nước này tuyên bố chủ quyền.

 

-(VNN 17/5) Đụng độ Philippines, vì sao tàu chiến TQ vắng bóng? Các chuyên gia hải quân cho rằng, mục đích của họ là giảm thiểu nguy cơ xung đột có thể gây phản ứng dữ dội trong khu vực; (VOA 17/5) Các cuộc họp cao cấp Mỹ-ASEAN sắp diễn ra tại Philippines

-(Infonet 17/5) Người biểu tình Philippines kéo nhau ra bãi cạn Scarborough: Theo phát ngôn viên của người dẫn đầu Nicanor Faeldon, một cựu đại úy thủy quân lục chiến Philippines, nhóm người biểu tình sẽ tiến ra bãi cạn vào ngày 18/5; (Vnmedia 17/5) Trung Quốc sắp đưa tàu chiến lớn nhất ra Biển Đông

-(Bdv 17/5) Lật tẩy mưu đồ của Trung Quốc khi cấm đánh cá trên biển Đông? Không đơn giản chỉ là để bảo vệ nguồn cá như tuyên bố công khai của giới chức Trung Quốc, mà lệnh cấm đánh cá sắp tới của Bắc Kinh trên biển Đông còn là mũi tên chính trị với hai đích ngắm; (Vnexpress 17/5) Chiến thuật của Trung Quốc đang gây bất ngờ’

-(Nld 17/5) Việt Nam tiếp nhận 3 chiếc Su-30MK2 do tập đoàn sản xuất vũ khí Rosoboronexport và công ty máy bay Sukhoi của Nga bàn giao, theo tin của hãng thông tấn Nga Interfax ngày 16-5; (Gd 17/5) Báo Trung Quốc:”Tàu chiến Mỹ sẽ đe dọa an ninh châu Á-Thái Bình Dương”

-(Sgtt 17/5) Philippines cử đặc phái viên đến Trung Quốc: Ngày 16.5, Tổng thống Philippines Benigno Aquino đã bổ nhiệm hai “đặc phái viên” đến Trung Quốc để cải thiện quan hệ, giữa lúc căng thẳng chủ quyền xung quanh bãi cạn Scarborough; (TN 17/5) Philippines sẽ chi 1,6 tỉ USD mua máy bay quân sự

-(VOV 17/5) Manila viện sức mạnh ASEAN trong tranh chấp Biển Đông: Nếu Bắc Kinh dùng đến vũ lực, gần như chắc chắn các nước tuyên bố chủ quyền khác trên Biển Đông tự động sẽ được đẩy xích lại gần nhau hơn; (Petrotimes 17/5) Quân đội Philippines – những “chú lính chì dũng cảm”

-(Gd 17/5) Trung Quốc biến sự kiện Scarborough thành mô hình độc chiếm biển Đông: Căng thẳng trên bãi cạn Scarborough những ngày qua không những không hạ nhiệt mà ngày càng có nhiều diễn biến mới lột tả mỗi lúc một rõ nét hơn đường đi nước bước của Trung Quốc trên biển Đông; (TP 17/5) Phát triển đội tàu dịch vụ ở Hoàng Sa

-(RFI 17/5) Đến lượt ngư dân Trung Quốc bị người Bắc Triều Tiên bắt cóc: 29 ngư dân Trung Quốc cùng tàu thuyền của họ bị một toán người Bắc Triều Tiên có trang bị võ khí chặn bắt trên biển; (Petrotimes 17/5) Các nước đối phó với lệnh cấm đánh bắt cá tại Biển Đông của Trung Quốc

-(Vnexpress 17/5) Trung Quốc ồ ạt đưa phương tiện ‘khủng’ ra Biển Đông với mục đích thăm dò và khai thác những nguồn lợi ở vùng biển này; (RFA 17/5) Giải pháp nào cho bãi cạn Scarborough

-(RFI 17/5) Philippines tận dụng hiệp ước hợp tác với Mỹ để bảo vệ đất nước: Theo điều 5 của hiệp ước phòng thủ hỗ tương Mỹ-Philippines, nếu một trong hai nước bị tấn công quân sự « vào chính quốc, hải đảo, lực lượng quân sự, hải thuyền và phi cơ », thì nước kia phải ra tay tham chiến bên cạnh đồng minh của mình; (PLTP 17/5) Nhật sẽ giao tàu tuần tra cho Philippines

-(TN 17/5) Người biểu tình Philippines sẽ bơi thuyền ra bãi cạn Scarborough giữa lúc nước này đang nỗ lực giải quyết vụ đối đầu căng thẳng với Trung Quốc tại khu vực; (RFI 17/5) Sáu người Philippines sẽ ra bãi đá Scarborough để phản đối Trung Quốc

-(BBC 17/5) VN thí điểm lập dân quân biển: Một số ngư dân Việt Nam tuyển chọn sẽ được huấn luyện quân sự để tăng cường khả năng tự vệ khi tham gia đánh bắt trên Biển Đông; Tàu dịch vụ hậu cần ở Hoàng Sa

-(RFI 17/5) Việt Nam tìm cách đối phó với lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc tại Biển Đông: Ngoài việc phản đối lệnh cấm này qua con đường ngoại giao, Việt Nam còn khuyến khích ngư dân tiếp tục hoạt động bình thường để khẳng định chủ quyền đất nước; (RFA 17/5) Lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc có thực sự hiệu quả?

-(GD 17/5) Điểm báo Trung Quốc nói về vấn đề tranh chấp lãnh hải ngày 17/5: Những tờ báo hàng đầu của nhà nước Trung Quốc tiếp tục đăng tải những bài viết thảo luận về tranh chấp trên biển giữa Bắc Kinh và các nước láng giềng; Nhiều quan chức tình báo Mỹ đến Đại học Thanh Hoa Trung Quốc

-(Pltp 17/5) Vụ Scarborough có thể lên bàn đối thoại ASEAN-Mỹ: Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario xác nhận cuộc đối thoại sẽ diễn ra ở Philippines từ ngày 20 đến 22-5

 

-(Dân trí 17/5) Philippines ban hành lệnh cấm đánh bắt tại bãi đá tranh chấp: Động thái này được cho là nhằm đối trọng với lệnh cấm đánh bắt cá tương tự của Trung Quốc cũng có hiệu lực trong cùng ngày.

-(Dantri 16/5) Trung Quốc và chính sách “cây gậy nhỏ” ở Biển Đông: Trung Quốc dùng các tàu tuần tra được trang bị vũ khí hạng nhẹ, thay vì tàu chiến. Nhưng Bắc Kinh không hề tỏ vẻ thỏa hiệp; (Dnsg 16/5) Giải quyết đa phương tranh chấp Biển Đông

-(Bdv 16/5) Bãi Scarborough nằm gọn trong tầm bắn tên lửa Mỹ: Với tầm bắn hơn 2.000km, các tên lửa trang bị cho USS North Carolina thừa sức bay tới bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham, dù chiến hạm này neo đậu ở vịnh Subic; Trung, Mỹ hợp tác ít, nghi ngờ nhiều

-(Phunutoday 16/5) Trung Quốc đang tấn công tổng lực các mặt trận: Trung Quốc vẫn quyết tâm giữ quan điểm cứng rắn trên biển Đông, bằng chứng là việc quốc gia này sắp triển khai ồ ạt tàu hải giám để tiếp tục bành trướng ở biển Đông; (Bdv 16/5) ‘Trung Quốc muốn Philippines phải nhường bước’

-(Vnmedia 16/5) Manila đưa tranh chấp Biển Đông ra cuộc họp Asean-Mỹ: Theo Bộ Ngoại giao Philippine cho biết, cuộc họp giữa Asean và Mỹ dự kiến sẽ diễn ra từ ngày 20 đến 22/5 tới; (Infonet 16/5) Sẽ có nhiều tàu chiến Mỹ đến Biển Đông

-(Vnexpress 16/5) Toàn cảnh tranh chấp chủ quyền Trung Quốc – Philippines: Căng thẳng Manila – Bắc Kinh vì tranh chấp bãi đá Scarborough kéo dài từ ngày 8/4 mà chưa có dấu hiệu chấm dứt, thậm chí khả năng chiến tranh từng được nhắc tới; (Infonet 16/5) Philippines “ngấm đòn” trừng phạt kinh tế của Trung Quốc

-(VOV 16/5) Trung Quốc cắt giảm các chuyến bay đến Philippines: Lý do của việc cắt giảm là do khách du lịch giảm; (Sgtt 16/5) Philippines nhượng bộ, Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng

-(Vietnamplus 16/5) Hội nghề cá VN phản đối cấm đánh cá ở biển Đông: lệnh cấm đánh bắt cá do Trung Quốc ban hành tại khu vực biển Đông có những khu vực biển đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam; (BBC 16/5) Chính sách ‘cây gậy nhỏ’ ở Biển Đông

-(RFI 16/5) Tàu ngầm Mỹ ghé cảng Philippines, gần vùng Scarborough: tầu ngầm Mỹ USS North Carolina đã cập bên cảng Subic Freeport theo một kế hoạch “tu bổ thường xuyên” và sẽ rời cảng ngày 19/05 sắp tới; (Dantri 16/5) Trung Quốc và chính sách “cây gậy nhỏ” ở Biển Đông

-(Gd 16/5) Tàu sân bay Thi Lang của TQ kết thúc thử nghiệm trên biển lần 6: Chuyến ra khơi thử nghiệm lần này kéo dài 9 ngày và Thi Lang đã cập cảnh Đại Liên hôm 15/5; (VOA 16/5) Trung Quốc dịu giọng trong việc công kích Philippines

-(BBC 16/5) TQ nên ‘cảnh giác với tham vọng của VN’: Các nhà phân tích chính trị Trung Quốc đã kêu gọi người dân của họ nên cảnh giác trước tham vọng của Việt Nam ở Biển Đông trong một chương trình bình luận trên kênh truyền hình trung ương hôm 14/5; (Ddk 16/5) Không thể để họ đạt được ý đồ xấu

-(VTC 16/5) Trung Quốc – Philippines ‘đọ’ thiệt hại kinh tế: Báo giới hai nước cùng tuyên bố đối phương sẽ chịu thiệt hại nặng về kinh tế và ngoại giao nếu không tìm cách tháo gỡ tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông; (Bdv 16/5) Một góc nhìn về sự hung hăng của truyền thông Trung Quốc

-(GD 16/5) Biển Đông: Tàu ngầm tối tân Mỹ tiếp cận bãi cạn Scarborough: Tàu ngầm tấn công USS North Carolina của Mỹ vừa bất ngờ xuất hiện gần bãi cạn Scarborough; Căng thẳng biển Đông, Đới Bỉnh Quốc: “Philippines ăn hiếp Trung Quốc”

-(Ld 16/5) Trung Quốc đưa tàu cần trục lớn ra biển Đông: Tân Hoa xã ngày 15.5 cho biết, Trung Quốc đã tổ chức buổi lễ mừng việc hoàn thành và ra khơi của tàu cần trục dầu khí Hải Dương 201 tại thành phố Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông; (TT 16/5) TQ: Tàu thăm dò dầu khí khổng lồ ra biển Đông

-(PLTP 16/5) Bãi cạn Scarborough và ván bài kinh tế của Trung Quốc

-(GD 15/5) Australia khẳng định lập trường về Biển Đông: Ngoại trưởng Australia hối thúc các bên liên quan làm sáng tỏ và theo đuổi các tuyên bố đó gắn liền với các quyền hàng hải phải phù hợp với luật pháp quốc tế; Căng thẳng Biển Đông: Điểm mặt những tướng Trung Quốc hiếu chiến nhất

-(BBC 15/5) TQ cấm đánh bắt là ‘việc bình thường’: Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định lệnh cấm đánh bắt mà giới chức có thẩm quyền của nước này áp đặt trên Biển Đông là ‘một biện pháp quản lý hành chánh đã được áp dụng trong nhiều năm’; Lệnh cấm của TQ là ‘vô giá trị’

-(Vnexpress 15/5) Việt Nam phản đối cấm đánh bắt cá trên Biển Đông: Trung Quốc đơn phương thi hành lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông là vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; (Mofa 15/5) Việt Nam phản đối lệnh cấm phi lý của Trung Quốc

-(VOA 15/5) Trung Quốc quan ngại về quan hệ quân sự Mỹ-Australia: Trung Quốc đã chỉ trích các kế hoạch của Hoa Kỳ định gia tăng số nhân viên quân sự trú đóng ở Lãnh địa miền Bắc của Úc

-(Dantri 15/5) Mỹ đưa siêu tàu ngầm tấn công đến Philippines: Tàu ngầm tấn công cao tốc USS North Carolina của Hải quân Mỹ đã cập cảng Subic Freeport của Philippines; (Nld 15/5) Trung Quốc giảm chuyến bay đi Philippines

 

-(PLTP 15/5) Trung Quốc áp đặt cấm đánh bắt cá: Khu vực cấm bao gồm bãi cạn Scarborough đang tranh chấp với Philippines và một số khu vực khác; (Vneconomy 15/5) Vì sao Trung Quốc đưa “nhà máy nổi” ra biển Đông?

-(VOV 15/5) Quan hệ Mỹ – ASEAN đến năm 2030 sẽ như thế nào? Các lãnh đạo của Mỹ đến năm 2030 cần phải hiểu hơn về Châu Á, giải đáp được tại sao ASEAN có ý nghĩa quan trọng đối với Mỹ; Philippines “phớt lờ” lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc

-(Cand 15/5) Philippines gia tăng hợp tác với Mỹ: Giới quan sát nhận định rằng Philippines sẽ đóng vai trò lớn hơn trong chính sách an ninh của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương trong thời gian tới; (Bdv 15/5) Philippines có lí do không sợ TQ?

-(TT 15/5) Trung Quốc ép Philippines bằng sức mạnh kinh tế: Báo chí Trung Quốc hùng hổ đòi tấn công quân sự Philippines. Nhưng thực tế Bắc Kinh đang sử dụng đòn trừng phạt thương mại để gây sức ép lên Manila; (Phunutoday 15/5) Mưu đồ Trung Quốc và bài học nóng hổi cho khối ASEAN

-(VNN 15/5) Giữa căng thẳng biển, TQ gia tăng khả năng hải giám: Cơ quan hàng hải dân sự Trung Quốc tuyên bố, họ sẽ đặt mua hơn ba chục tàu mới từ năm tới.

-(TN 15/5) Trung Quốc ngang ngược cấm đánh cá ở biển Đông: Trung Quốc hôm qua ngang nhiên tuyên bố sẽ cấm đánh bắt ở nhiều khu vực trên biển Đông. Philippines khẳng định không công nhận lệnh này; (Vnmedia 15/5) Căng thẳng Biển Đông, Trung Quốc lộ điểm yếu

-(Baodatviet 15/5) Trật tự nào cho châu Á? Trật tự chính trị nào tốt nhất cho tương lai của châu Á là vấn đề đã, đang và sẽ là chủ đề tranh cãi gay gắt của giới phân tích quốc tế; (VOA 15/5) Australia nói TQ không có gì phải sợ về liên minh quân sự Australia-Mỹ

 

-(VNN 14/5) Obama cân bằng lại với Trung Quốc: Chính quyền của ông Obama cuối cùng đang thực hiện một quan điểm cứng rắn hơn với Bắc Kinh sau nhiều năm cố gắng hợp tác một cách vô ích; (Gd 14/5) Biển Đông:Hạm đội Nam Hải áp sát Philippines mang theo 48 quả tên lửa?

-(VOA 14/5) Malaysia: Không cần sự can thiệp quân sự trong tranh chấp Biển Đông: Người  đứng đầu ngành quốc phòng Malaysia nói vấn đề có thể được giải quyết  giữa bộ ngoại giao các nước trong cuộc họp của các bộ trưởng quốc phòng  ASEAN tại thủ đô Campuchia vào ngày 27/5; (Petrotimes 14/5) Cái gọi là “lệnh cấm đánh bắt cá mùa hè ở Biển Đông của Trung Quốc”

-(Petrotimes 14/5) Chiến tranh mạng giữa Trung Quốc và Philippines: Bất đồng hiện nay giữa Trung Quốc và Philippines đã vượt qua những xung đột lãnh hải, quân sự và ngoại giao, phát triển thành cuộc chiến tranh mạng; (Bdv 14/5)Mỹ sẽ đứng ngoài xung đột Trung Quốc và Philippines

-(VNN 14/5) Philippines bác bỏ lệnh cấm đánh cá của TQ: Manila tuyên bố, họ sẽ không công nhận lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc ở Biển Đông; (BBC 14/5) Tại sao TQ không chịu ra tòa án quốc tế?

 

-(GD 14/5) Lực lượng Trung Quốc mang súng uy hiếp tàu cá Philippines: Mỗi xuồng cao su xuất phát có 8 người, mỗi người mang theo một khẩu súng, họ có ống nhòm để phát hiện ngư dân Philippines từ xa; (RFI 14/5) Philippines không thừa nhận lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc

-(TVN 14/5) Asean – Mỹ: Con kiến mà leo cành đa: Dư luận kỳ vọng Diễn đàn Asean – Mỹ ngày 10/5 vừa qua đề cập đến hiện trạng mấp mé xung đột ở Biển Đông và đón đợi quan hệ Asean – Mỹ hướng tới “đối tác chiến lược”; (Dantri 14/5) Các căn cứ quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông

-(GD 14/5) Philippines xem xét ban hành lệnh cấm bắt cá tại Scarborough ngay sau khi phía Bắc Kinh đưa ra lệnh cấm tương tự; (RFI 14/5) GS Vũ Quốc Thúc: ” Việt Nam cần quy chế trung lập để bảo toàn lãnh thổ”

-(TN 14/5) Nhật lo ngại hoạt động trên biển của Trung Quốc: Lực lượng tuần duyên Nhật Bản cảnh báo căng thẳng đang gia tăng tại vùng biển xung quanh quần đảo tranh chấp với Trung Quốc; Bổ sung ngay Trường Sa, Hoàng Sa vào sách giáo khoa

-(LD 14/5) Trung Quốc không thể chứng minh quan điểm dựa trên UNCLOS: Việc Trung Quốc từ chối lời mời của Philippines đưa tranh chấp ở bãi cạn Scarborough ra Tòa quốc tế cho thấy, Trung Quốc không thể chứng minh quan điểm của họ dựa trên luật pháp quốc tế; (TT 14/5)Đối thoại Bắc Kinh – Manila đổ vỡ

-(Vnmedia 14/5) Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông trong thời gian hai tháng rưỡi. Lệnh này sẽ có hiệu lực từ thứ Tư tới; Trung Quốc muốn Nga tránh xa Biển Đông

-(Vietnamplus 13/5) Tàu chở hoa quả Philippines ứ đọng tại Trung Quốc: Chính phủ Philippines ngày 13/5 cho biết đang nỗ lực giải quyết tình trạng hàng loạt chuyến tàu chở hoa quả xuất khẩu của nước này bị ứ đọng tại các cảng biển của Trung Quốc; (TN 13/5) Căng thẳng với Trung Quốc đẩy Philippines nghiêng về phía Mỹ

-(RFI 13/5) Mỹ – Trung đối đầu tại Đông Nam Á: Việc Hoa Kỳ quay về với khu vực, đặc biệt là trong quan hệ với Philippines, Việt Nam, Úc và Nhật Bản, được Trung Quốc coi là một dấu hiệu báo động; Ấn Độ đồng ý cho ONGC ngừng hợp tác với Việt Nam về dầu khí ở Biển Đông

 

-(BBC 13/5) Philippines xem nhẹ TQ tập trận: Người phát ngôn quân đội Philippines cho biết ‘Diễn tập hải quân trong các vùng biển quốc tế là quyền của quân đội bất cứ quốc gia nào.’ (Gd 13/5 ) Biển Đông: Trung Quốc tiếp tục chĩa mũi dùi vào doanh nhân Philippines

-(VNN 13/5) Sư thầy trụ trì chùa ở Trường Sa: Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân giới thiệu Đại đức Thích Ngộ Thành là công dân mới nhất của huyện đảo Trường Sa Lớn; (Vietnamplus 13/5) Tặng quà và tượng Trần Hưng Đạo cho Trường Sa

-(Petrotimes 13/5) Trung Quốc công bố chi tiết các chuyến du lịch ra quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam: Đây là diễn tiến mới nhất trong mưu đồ của Bắc Kinh áp đặt chủ quyền trên hai quần đảo mà Việt Nam xác quyết là lãnh thổ quốc gia từ nhiều thế kỷ trước; (TT 13/5) Trung Quốc sợ ra Tòa án luật biển quốc tế?

-(TN 13/5) Chống lại đối thủ mạnh hơn: Các nước khu vực Đông Nam Á đang cố gắng đảm bảo khả năng phòng vệ hữu hiệu nếu phải xung đột với một lực lượng hải quân hùng mạnh; Chặn bành trướng trên biển

-(RFI 13/5) Trung Quốc phủ nhận là đang chuẩn bị chiến tranh ở Biển Đông: Có nhiều tin đồnBắc Kinh đã ra lệnh cho các đơn vị quân đội nâng mức độ chuẩn bị chiến đấu lên cấp hai trên bốn mức chuẩn bị tiến hành chiến tranh; (BBC 13/5) “TQ không gây chiến” vì biển đảo

-(TN 13/5) Tàu chiến Trung Quốc đến gần Philippines: Một đội tàu chiến của Trung Quốc tập trận tại vùng biển gần với Philippines trong khi căng thẳng giữa hai bên quanh bãi cạn Scarborough vẫn chưa kết thúc; (DDK 13/5) CNOOC 981 – “Vũ khí” mới của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông

-(Petrotimes 12/5) Trung Quốc-Philippines: Chiến tranh đang đến gần? Chỉ trong vài ngày qua, các động thái dồn dập trên nhiều “mặt trận” làm tăng nhiệt quan hệ Trung Quốc-Philippines khiến người ta nghĩ dường như sắp có chiến tranh; Các căn cứ quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông

-(VOA 13/5) TNS McCain: Hoa Kỳ không thể để TQ ‘tự tung tự tác’ ở Biển Ðông

Vũ trụ của Giáo sư Thuận

20 Tháng 5

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng” – Petrotimes

20 Tháng 5

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng”

(Petrotimes) – Nhạc sĩ Phạm Tuyên vẫn sống một mình trong căn nhà nhỏ ở phố Vạn Bảo. Cả cuộc đời cống hiến cho âm nhạc, ông dường như chưa bao giờ màng đến danh lợi. Bởi tâm nguyện của người nghệ sĩ già là sống vì nhân dân, từ nhân dân mà ra. Ông vinh dự được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh lần này, một giải thưởng mà có lúc, trong những ồn ào xô bồ của cuộc sống, người ta cứ ngỡ đã bỏ quên những đóng góp to lớn của ông.

PVThưa nhạc sĩ, xin chúc mừng ông và gia đình. Ông nhận được tin được Giải thưởng Hồ Chí Minh với tâm trạng như thế nào?

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Tôi vui vừa vừa thôi. Tôi nghĩ, cũng đã đến lúc nên phản đối cái lối xin – cho. Còn tác phẩm của tôi đã có sự thẩm định của nhân dân và sức sống trong nhân dân.

PV: Những bài hát của ông đã đi vào đời sống một cách tự nhiên, có những bài hát xuất hiện thường xuyên trong các cuộc gặp gỡ?

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Tôi đến Cao Bằng, có một cuộc mít tinh họ hát bài “Như có Bác Hồ”, tôi hỏi các anh hát bài gì đấy, họ phản ứng ầm ĩ lên, sao bác không biết bài này. Tôi hỏi, bài này của ai đấy, họ bảo, chúng tôi không biết, chúng tôi gọi đó là bài hát “Giã bạn”.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên

PV: Nền tảng gia đình có ý nghĩa như thế nào trong cuộc đời của ông. Ông đến với âm nhạc do định hướng của gia đình hay là sự lựa chọn của riêng ông?

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Ông cụ tôi rất tôn trọng ý kiến của con và để các con phát triển tự nhiên. Nhưng ảnh hưởng gia đình lớn nhất là văn hóa của gia đình. Hồi bé, mới mấy tuổi, niềm vui sau khi đá bóng của tôi là chui vào thư viện chất đầy sách của gia đình. Nền tảng văn hóa gia đình giúp tôi trưởng thành.

Tôi thuộc thế hệ đi vào đời sống âm nhạc một cách tình cờ. Hồi lên chiến khu Việt Bắc, tôi mới học xong tú tài. Định học thêm đại học. Trong kháng chiến, chỉ có hai trường đại học, Đại học Y khoa và Đại học Pháp lý. Tôi chọn Pháp lý. Khi Pháp đánh đến Thái Nguyên, trường giải tán. Lúc đó tôi mới 20 tuổi. Họ phân tôi vào sĩ quan lục quân khóa 5. Thấy tôi có trình độ văn hóa, có năng khiếu âm nhạc, nên chuyển tôi về Trường Thiếu sinh quân Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác của tôi bắt đầu từ đó. Sau đó tôi chuyển qua nhiều công việc nữa.

Trước nay, tôi nghĩ mình sẽ chiến đấu trên mặt trận vũ khí, chứ không phải âm nhạc. Thế hệ tôi tìm đến âm nhạc với hai chức năng, đó là cổ vũ động viên và giải trí. Trong kháng chiến, chức năng cổ vũ, động viên mọi người rất cao quý. Nếu ai viết tình ca, thì viết để hát với nhau thôi. Hồi giải phóng miền Nam, ông Lưu Hữu Phước có nói với tôi, Tuyên ơi, trong chiến tranh, mỗi bài hát là một vũ khí đấy.

Giờ hòa bình lập lại rồi, họ đề cao quá chức năng giải trí mà coi nhẹ chức năng giáo dục, rất đáng tiếc.

PV: Những bài hát của ông đã cổ vũ tinh thần của một thời, chắc ông có rất nhiều kỷ niệm cảm động với khán, thính giả?

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Rất cảm động, sau giải phóng tôi vào miền Nam, một người ở bên đài truyền hình photo cho tôi một bức thư, thì ra là bức thư của một anh bộ đội chép nhạc và lời bài “Chiếc gậy Trường Sơn”. Bài hát là nguồn động viên cho anh ấy vượt Trường Sơn. Sau đó anh ấy hy sinh. Tôi nghĩ, âm nhạc mang tinh thần cổ vũ, động viên tình yêu nước rất quan trọng.

Hôm vừa rồi có một cô giáo tên Ngọc Lan mang đến biếu tôi 6 đĩa CD những bài hát của tôi thu qua đài.

Mới đây, có một cô người Mỹ sang Việt Nam nghiên cứu về phụ nữ mang tặng tôi một bức tranh vẽ Bác Hồ, trong đó có tên bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” dịch qua tiếng Anh hôm mồng 2-3 vừa rồi. Sau đó, biết tin tôi được Giải thưởng Hồ Chí Minh, cô ấy còn gửi tặng tôi một lẵng hoa. Đúng là bài hát đã vượt ra ngoài ý định của người viết.

PVVì sao ông có thể làm được điều đó?

Nhạc sĩ Phạm Tuyên:  Sở dĩ tôi làm được điều đó không phải vì tôi tài giỏi gì hết. Khi được cử về Đài Tiếng nói Việt Nam, đây là cơ quan duy nhất trong chiến tranh có thể thông tin vượt qua mọi rào cản, biên giới. Bởi vì tôi hết mình. Hàng ngày tôi nghe tin tức, cập nhật những vấn đề của đời sống. Tôi cảm ơn môi trường báo chí giúp tôi thu nhận những điều đó… Vì thế, những bài hát của tôi được mọi người nhắc đến vì nó mang lòng tự hào dân tộc.

PV: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” của ông được nhắc đến trong mọi cuộc vui, hội họp, cổ vũ tinh thần và có sức mạnh tập hợp mọi người. Ông có thể kể về hoàn cảnh ra đời bài hát đó?

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Khi tôi viết, với tình cảm của cá nhân mình. Lúc đó tôi cũng như mọi người dân Việt Nam thực hiện lời của Bác Hồ, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Lúc đó đồng chí Tổng biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam là ông Trần Lâm động viên anh em, mình đang tổng tiến công nổi dậy, làm âm nhạc phải có một tác phẩm hoành tráng đón mừng chiến thắng. Theo lý trí tôi định làm một bản hợp xướng bốn chương, “Việt Nam thành đồng”, “Miền Bắc lũy thép”, “Thế giới ủng hộ Việt Nam” và “Chiến thắng”… Thế nhưng không thể viết nổi. Hàng ngày cứ theo dõi quân ta giải phóng chỗ này, chỗ kia.

Mãi đến tối 28/4, buổi phát thanh lúc 21h30, có một phi công Việt Nam ném bom Sân bay Tân Sơn Nhất, tôi giật mình, chắc là sắp giải phóng Sài Gòn rồi. Nếu giải phóng thì cả nước sẽ đổ ra đường, người người ra đường reo vui, có ai ở nhà nghe hợp xướng đâu, cả mình cũng vậy. Bài hát là tiếng reo vui của chính bản thân mình. Tôi viết một mạch đến 23h là xong, không sửa một chữ nào. Và tôi cũng xin tiết lộ, câu đầu tiên tôi viết là điệp khúc “Việt Nam – Hồ Chí Minh”. Đến hôm sau, đưa lên Hội đồng duyệt nhạc, mọi người cười bảo, bài viết hoành tránh mà như viết cho thiếu nhi, có người đề nghị đến ngày 7/5 sẽ dựng.

Lúc đó tôi không có ý nghĩ gì ngoài việc mình đã trả được một món nợ tình cảm và họ nhận xét gì chấp nhận hết. Ngày 30/4/1975, đúng lúc mình cắm cờ trên Dinh Độc lập, ông Trần Lâm gọi điệ n cho tôi, bảo chiều nay cho phép công bố tin đại thắng ra toàn thế giới. Anh em âm nhạc đã chuẩn bị được bài hát gì chưa. Tôi hát bài “Như có Bác Hồ”, vừa nghe xong ông ấy bảo, chỉ cần bài này, chiều hôm đó phải tập và thu thanh, 16h Ban Giám đốc đài duyệt. Lúc đó tôi bàng hoàng, ngạc nhiên. Họ lên tập từ 14-16 giờ thì xong. Cuộc đời tôi có rất nhiều cuộc thu thanh, nhưng chưa bao giờ tôi dự một cuộc thu thanh cảm động thế, tất cả mọi người đều khóc, nước mắt của niềm vui. Ngày hôm sau mồng 1/5 đi ra Bờ Hồ đã thấy đoàn Quân nhạc kéo bài hát này.

PV: Ông có nghĩ bài hát của mình đã thành công ngoài sức tưởng tượng đến thế, nó đã vượt qua tiếng nói của một cá nhân, hơn thế, biên giới một quốc gia?

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Tôi mừng và cũng ngạc nhiên, bài hát như sẵn có ấy. Khi tôi in bài đó trên Báo Nhân dân thì bài hát đã được phổ biến khắp nơi rồi. Nhạc sĩ Nguyễn Cường nói, chắc lúc đó anh có linh tính gì mới viết được như thế. Tôi chỉ cười, có lẽ là một tình cảm tôi ấp ủ từ lâu mới viết được như thế.

Tôi đã viết bài hát này trong hai tiếng đồng hồ, nhưng đó là hai tiếng cộng với cuộc đời. Nếu không có những năm tháng gian khổ trong chiến tranh, nằm hầm ở 58 Quán Sứ… thì tôi không có tôi của khoảnh khắc đó.

Bài hát đã vượt qua biên giới một quốc gia. Được nhiều nước sử dụng như Đức, Nga, Nhật. Có lần họ còn hát bằng tiếng Nhật ở tại nước mình. Sau khi giải phóng, bài hát này được in ở bên Nhật năm 1978, họ bảo, chúng tôi hát với hai ý nghĩa, ca ngợi Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và do âm hưởng của bài hát rất vui, khi cần tập họp lực lượng, chúng tôi hát bài này. Và ở Việt Nam, gần 40 năm qua, nó cũng đã được người dân chọn.

PV: Nhà Thơ Phạm Tiến Duật đã có một câu thơ dành cho ông, “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay”. Đó là tâm sự của ông?

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Cuộc đời tôi có những điều phải chấp nhận. Tôi có đọc một câu của tỉ phú Bill Gate: “Cuộc sống vốn không công bằng, phải biết chấp nhận và vượt lên nó”. Thế hệ chúng tôi, có những điều phải chấp nhận. Bởi tôi có công chúng, từ trẻ nhỏ cho đến người già. Chính nhân dân là nguồn cổ vũ động viên tinh thần cho tôi rất nhiều. Và tôi nghĩ, có được những bài hát sống trong lòng công chúng là từ tình yêu nước của mình. Mỗi người có một cách yêu nước. Tôi cũng phải cảm ơn nhân dân, chính nguồn cổ vũ động viên của  họ giúp tôi vượt qua những khó khăn.

70 năm xuất bản Thi nhân Việt Nam (1942 – 2012): Cãi Nguyễn Vỹ hộ Hoài Thanh – TP

20 Tháng 5

TP – Dù Hoài Thanh rất trọng Nguyễn Vỹ nhưng có lẽ thi nhân không thấu hiểu nên đã có một bài “bút chiến” trong hoàn cảnh kẻ Nam người Bắc rất thú vị.

Nhà thơ Xuân Tâm và cuốn Thi nhân Việt Nam in lần đầu.Ảnh: Tân Linh.

 

Một trùng hợp: Kỷ niệm 70 năm xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Thi nhân Việt Nam” đúng lúc với dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhà thơ Nguyễn Vỹ – một trong 46 nhân vật của Hoài Thanh trong cuốn sách nói trên.

17 năm sau khi “Thi nhân Việt Nam” ra đời, Nguyễn Vỹ – khi đó ở trong Nam, mới được đọc những trang Hoài Thanh viết về mình và thơ mình. Ông viết bài in trên tạp chí Phổ thông ở Sài Gòn năm 1959 “phản biện” lại. Một cuộc “phản biện” thật muộn màng và… thú vị.

Nguyễn Vỹ viết: “ Lật sách ra coi, tôi hết sức ngạc nhiên về bài nói đến tôi. Ông khởi đầu bằng một lời phê bình lạ lùng: Nguyễn Vỹ đã đến giữa làng thơ với chiêng trống, xập xèng inh cả tai” Không biết ông Hoài Thanh lấy theo tài liệu lịch sử nào mà ghi chép như thế? Quyển “Tập thơ đầu” ra đời năm 1934 – lúc bấy giờ sự thật tôi mới có 22 tuổi, chỉ là một cuộc trình diễn rụt rè và im lặng…” Nguyễn Vỹ đã nói về xuất xứ và hành trình ra đời tập thơ đầu của mình rằng, chỉ với mươi bài thơ Việt và Pháp được viết trong giấy vở sau đó “tình cờ Trương Tửu trông thấy, lấy đưa Lưu Trọng Lư xem rồi chính Lư đưa nhà in Tân Dân in giùm mà tôi không có tiền trả…”. Nhưng…

Hoài Thanh đã đem trình làng mấy chục chân dung Thơ Mới, và ông đã đối xử ân tình với tất cả, dẫu có chê ai một xíu thì chỉ là cái cách ông dẫn người ta vào mê lộ thi ca của người đó mà thôi. Viết như Hoài Thanh về sự xuất hiện của Nguyễn Vỹ là không có gì phải… cãi. Bởi chính Nguyễn Vỹ đã thừa nhận rằng “… Tờ báo đầu tiên ban cho tôi một hân hạnh đặc biệt là tờ tuần báo Pháp văn L’ Annam Nouveau của cụ Nguyễn Văn Vĩnh.Trong một cột dài, tờ báo ấy khen nhiều bài trong Tập thơ Đầu, cả thơ Việt văn lẫn thơ Pháp văn.

Tôi nhớ báo ấy trích cả đoạn dài của bài Débris d’aile et Desbris d’Ell và bài Đức thánh Đồng đen. Cách mấy số sau, cũng trong L’ Annam Nouveau, Nguyễn Nhược Pháp viết một bài phê bình rất có cảm tình nồng hậu. Tôi thật cám ơn hai bài báo ấy.

Nhưng, tiếp sau đó, Thế Lữ với một bài dài đăng trong tuần báo Phong hóa, đả kích nhiệt liệt mấy bài thơ Việt văn của tôi. Ông bảo tôi “dốt”, ông chê tôi “bất tài”. Viết thế tức nhà thơ Nguyễn Vỹ đã thừa nhận có chuyện nhiều báo chí khen chê thơ ông.

Vậy thì Hoài Thanh viết về tình hình ấy của Nguyễn Vỹ, chính là khen đấy chứ! Giả đò “mắng”, nhưng là để bắt đầu làm người ta chú ý đến nhân vật sắp được ca tụng.

Sự thực thì Hoài Thanh đã đối xử như vậy với nhiều nhân vật trong “Thi nhân…” của mình. Và không có gì là vẻ vang hơn khi những người làm thơ, khi tuổi mới đôi mươi đã được con mắt xanh của nhà phê bình Hoài Thanh nhòm ngó đến. Và ông đã “phang” rất nhiều nhân vật của mình với những lời lẽ cực kỳ đáng yêu.

Lan Sơn là một ví dụ. Lan Sơn “bị” Hoài Thanh viết vẻ thành thực: “Con người ấy đã trở nên tối tăm, rắc rối, cầu kỳ, con người ấy tôi không muốn biết nữa.” Nói vậy, thế mà sau đó ông lại trích dẫn đến ba bài thơ dài của Lan Sơn… Và đây: “Cho nên gặp thơ hay, tôi triền miên trong đó.

Thỉnh thoảng có nói đến cái dở cũng cốt cho nổi cái hay mà thôi”. Thái độ của ông là dứt khoát đấy chứ. Và Thi nhân Việt Nam là tập sách bình thơ hay của mười năm Thơ Mới chứ không hề là cuốn sách phê bình như nhiều người vẫn nghĩ. Ông không đi vào phê phán mổ xẻ câu chữ mà là chỉ bình phẩm với lời lẽ nhẹ nhàng, tinh tế nhằm tôn vinh cái hay cái đẹp của thơ.

Nhà thơ Nguyễn Vỹ.

 

Được chọn là một trong 46 nhân vật của “Thi nhân…” âu cũng đã là một vinh dự lớn trên văn đàn, từ đó để lại tên tuổi nhiều thời đại. Hoài Thanh đã đi tìm thi nhân cho nước Việt và Nguyễn Vỹ đã là nhân vật được chọn, cùng với những Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… Nguyễn Vỹ, có lẽ hiểu lầm Hoài Thanh khi đánh đồng việc phê bình thơ Nguyễn Vỹ của một số người trên một số tờ báo, trong đó có Thế Lữ, nên sau đó giận dữ viết:… “Chứ sao ông lại hùa theo chàng mà vác gậy đập tôi, sau rồi lại vuốt ve tôi?…” Viết như vậy rõ ràng Nguyễn Vỹ đã vì bức xúc mà không hiểu ý đồ, không rành phương pháp bình thơ của Hoài Thanh.

Lối viết của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam là hết sức tùy hứng, tùy bút. Có người đã bị ông “đập” như trời giáng, nhưng rồi lại bắt đầu thủng thẳng mà ngợi ca họ, tôn vinh thơ họ như đỉnh cao của nghệ thuật chữ nghĩa… Còn cái đoạn “Cái lối ăn mặc và điệu bộ lố lăng” mà Hoài Thanh viết về Nguyễn Vỹ, hẳn không phải Hoài Thanh mô tả thi nhân về vẻ ngoài đâu. Đấy là ông ấy “phang” cái cách làm thơ tiếng Pháp, và cái chất mới lạ trong hình thức thơ Nguyễn Vỹ.

Hoài Thanh viết: “Nguyễn Vỹ đã đến giữa làng Thơ với chiêng trống xập xèng inh cả tai. Chúng ta đổ nhau ra xem. Nhưng chúng ta lại tưng hửng trở vào vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu bộ lố lăng lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì…” Vâng, đúng là Hoài Thanh đã nhằm vào hình thức của thơ Nguyễn Vỹ chứ không phải vào người thi nhân.

Mà bằng chứng là đọc lại hai bài thơ của Nguyễn Vỹ dẫn trong “Thi nhân Việt Nam” mới thấy cái hình thức thơ và cấu trúc bài thơ lạ lùng. Bài Sương rơi không lạ sao được khi chỉ rặt những câu thơ chỉ có…hai chữ: Trong lòng/ Hạt sương/Thành một/Vết thương… Hoặc bài Gửi Trương Tửu có đoạn: Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác/Mà coi đồng tiền như cái rác/Kiếm được xu nào đem tiêu hoang/Rủ nhau chè chén nói huynh hoang…Thì đấy là lối thơ lạ lùng đã đành, mà lời lẽ cũng không bình thường lắm.

Với Nguyễn Vỹ sau đó Hoài Thanh đã dành cho những lời có cánh: “Một bài như bài Sương rơi được rất nhiều người thích. Và Hoài Thanh đã viết tiếp: “Người ta thấy Nguyễn Vỹ đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để tả một cái gì đương rơi.

Cái gì đó có thể là giọt sương cũng có thể là những giọt lệ hay những giọt gì vẫn rơi đều đều chầm chậm trong lòng ta mỗi lúc vẩn vơ buồn ta đứng một mình trong lặng lẽ…Và đây: “Gửi Trương Tửu” mới thực là kiệt tác của Nguyễn Vỹ. (…) Những ai cùng một cảnh huống xem thơ tưởng có thể khóc lên được…”.

Cái cách trình bày của Hoài Thanh về vẻ đẹp thi ca với người đời là như vậy. Nhưng buồn thay, sau đó hai người hai ngả, văn bản duy nhất là cuốn “Thi nhân Việt Nam” đến quá muộn với nhân vật của mình và “ở hai đầu nỗi nhớ” ấy, khó cảm thông chia sẻ được cùng nhau là điều dễ hiểu. Bây giờ thì thi nhân Nguyễn Vỹ và tác giả “Thi nhân Việt Nam” đều đã kéo nhau về thiên cổ…

HN tháng Tư 2012

Nhà thơ Nguyễn Vỹ sinh năm 1912, quê làng Tân Hội (sau đổi thành Tân Phong) nay thuộc xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Ông học Trường Trung học Pháp – Việt, Qui Nhơn (1924) và khi đang học năm thứ 3 (1927) thì bị đuổi vì tham gia phong trào bãi khóa.

Ra Hà Nội học, đậu tú tài toàn phần (1932), ông dạy tại Trường Thăng Long, Hà Nội và viết cho các tờ như La Patrie Annamite, L’Ami du Peuple Indochinois, Tiếng dân, Văn học Tạp chí, Đông Tây Tuần báo, Phụ nữ Tuần báo, Tiểu thuyết Thứ năm… Ông cùng Trương Tửu chủ trương tuần báo Le Cygne (1935 – 1936).

Viết nhiều bài trên tờ Le Cygne chỉ trích đường lối cai trị của người Pháp, ông bị qui kết “phá rối cuộc trị an, xui dân làm loạn để đánh đổ chính phủ quân chủ” với cái án 6 tháng tù và 3.000 quan tiền phạt (1937).

Ông cho xuất bản hai quyển sách (Cái họa Nhật Bản và Kẻ thù là Nhật Bản) chống chế độ quân phiệt Nhật và bị bắt đem an trí ở Trà Khê, Phú Yên (1941 – 1945)… Nguyễn Vỹ mất tại Sài Gòn năm 1971 sau một tai nạn giao thông.

 

Tấn Linh

Mở cửa căn hầm lịch sử NLĐ

20 Tháng 5

Căn hầm trong khách sạn Metropole Hà Nội, nơi nhiều nhân vật nổi tiếng như diễn viên Jane Fonda, ca sĩ Joan Baez… từng trú ẩn khi Mỹ ném bom miền Bắc, được lưu giữ gần như nguyên vẹn

Gần 40 năm kể từ khi chiến tranh kết thúc tại Việt Nam và gần một năm sau khi được tìm thấy, căn hầm trú ẩn trong khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội đang chuẩn bị mở cửa. Nhà sử học Andreas Augustin, Chủ tịch Tổ chức Các khách sạn nổi tiếng nhất thế giới, tác giả cuốn lịch sử khách sạn Metropole,  nhìn nhận: “Việt Nam nổi tiếng với các công trình trú ẩn dưới lòng đất như địa đạo Củ Chi, địa đạo Vịnh Mốc… Căn hầm – di tích lịch sử này mở cửa từ ngày 22-5 sẽ mở thêm một trang sách mới về câu chuyện chiến tranh ở Việt Nam”.

Giữ lại dấu ấn lịch sử

Đứng trước lối vào căn hầm được trùng tu như mới, ông Kai Speth, Tổng Giám đốc khách sạn Metropole, không giấu được  niềm vui và tự hào. Với ông, căn hầm trú ẩn trong một khách sạn 5 sao gắn với một thời gian khó của người dân Hà Nội và với những sự kiện lịch sử hơn 100 năm của Metropole thật hiếm có.

Tháng 8-2011, sau khi đào sâu hơn 2 m xuống lòng đất trong khách sạn Metropole và khoan qua trần bê tông cốt thép dày 278 mm, đội thi công phát hiện một hành lang ngập nước dẫn tới căn hầm ngầm kiên cố rộng 40 m2.
Trong đó, những đồ vật sót lại như các chai rượu, bóng đèn, nét khắc trên tường… vẫn còn nguyên. “Ý tưởng giữ lại căn hầm như một dấu ấn lịch sử đến với tôi và các đồng nghiệp rất nhanh và bất ngờ. Chúng tôi cùng thiết kế và suy nghĩ về việc làm sao để không hủy bỏ khung cảnh, quán bar, làm xáo trộn niềm vui của du khách mà vẫn lưu giữ được căn hầm gần như nguyên vẹn” – ông Speth tiết lộ.

Ông Kai Speth, Tổng Giám đốc khách sạn Metropole, giới thiệu căn hầm trú ẩn

Mùa thu năm 2011, chủ nhân những nét khắc trên tường của căn hầm, lúc này đang là điều bí ẩn, xuất hiện. Ông Bob Devereaux, 78 tuổi, một nhà ngoại giao Úc từng làm việc tại Hà Nội, tình cờ đọc một bài báo viết về việc phát hiện căn hầm. Ông vội vàng liên lạc với khách sạn Metropole và khẳng định ông chính là người đã khắc tên mình trên bức tường căn hầm vào tháng 8-1975, dù không nhớ rõ vì sao đã làm vậy.

“Có thể lúc đó tôi đang ở trong căn hầm ngập nước, không điện đóm và không có việc gì để làm. Trong lúc mò mẫm chai rượu bị ngập trong nước, tôi đã tiện tay khắc tên mình lên bức tường đó. Tôi không nhớ căn hầm bị đóng lại khi nào bởi khi tôi rời Hà Nội năm 1976, nó vẫn mở cửa” – ông Devereaux hồi tưởng.

Theo tổng giám đốc Metropole, căn hầm được xây dựng khoảng năm 1965, khi Mỹ ném bom ác liệt miền Bắc. Có rất nhiều nhà ngoại giao, chính khách, nghệ sĩ nổi tiếng đến từ các nước đã xuống căn hầm này trú ẩn khi Mỹ ném bom phá hoại. Lúc ấy, Metropole là khách sạn sang trọng và đẹp nhất ở Hà Nội.

Phảng phất bóng dáng Jane Fonda

Ông Cao Xuân Nhã, cựu chuyên viên Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, năm nay đã gần 80 tuổi, là người có nhiều kỷ niệm khó quên với căn hầm trú ẩn trong khách sạn Metropole. Trong thời gian từ năm 1968 đến 1972, ông đã đưa gần 100 đoàn khách xuống căn hầm.

Kỷ niệm như trào dâng khi ông Nhã được mời tham quan căn hầm lúc vừa hoàn thiện. Ông bồi hồi xúc động, bước xuống căn hầm mà chân như muốn khụyu xuống. “Căn hầm đã được tân trang nhưng tôi vẫn thấy phảng phất bóng dáng Jane Fonda, nữ diễn viên điện ảnh Mỹ lừng danh. Cô ấy từng ngồi trong hầm chỗ tôi đang đứng đây…” – ông Nhã hồi tưởng.

Khoảng thời gian ấy, ông Nhã được phân công đưa khách – những trí thức, nghệ sĩ, nhà hoạt động xã hội… của nhiều nước trên thế giới đến Việt Nam để đồng cam cộng khổ với nhân dân ta -  nghỉ ở khách sạn. Hà Nội lúc đó mang hơi thở chiến tranh, không khí nóng bỏng, căng như dây đàn. Mỗi khi nghe vang lên giọng cô phát thanh viên: “Đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà Nội… cây số, đồng bào hãy nhanh chóng vào hầm trú ẩn”; thêm vào đó là tiếng còi báo động rú inh ỏi, ông Nhã vội đi từng phòng gõ cửa, mời khách xuống hầm trú ẩn. Căn hầm trong khách sạn Metropole chia thành 5 ngăn. Nhiều đêm máy bay Mỹ quần thảo ác liệt, một số khách hoảng sợ, không muốn ra khỏi hầm mà ngủ luôn ở đó.

Ông Cao Xuân Nhã hồi tưởng về những vị khách nổi tiếng từng trú ẩn trong căn hầm ở khách sạn Metropole. Ảnh: MẠNH DUY

“Tôi từng đưa nữ diễn viên Jane Fonda xuống hầm nhiều lần” – ông Nhã khẳng định. Năm 1971, nữ minh tinh này đến Hà Nội một mình với bàn chân bị băng bó do tai nạn. Ông Nhã đã tận tình dắt tay cô từng bước leo xuống những bậc thang bằng sắt nhỏ xíu. Năm sau, Jane Fonda lại có mặt ở Việt Nam cùng chồng, nhà hoạt động chính trị – xã hội Tom Haydn và con trai để cổ vũ cho cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam. “Lần này, cô cũng phải xuống hầm trú ẩn mấy bận nhưng đã mất đi cảm giác sợ hãi do tận mắt nhìn thấy cảnh tan hoang của Bệnh viện Bạch Mai vì bom Mỹ” – ông Nhã cho biết.

Cất tiếng hát trong hầm trú ẩn

Cuốn lịch sử khách sạn Metropole còn lưu lại cuộn băng của nữ ca sĩ nhạc đồng quê Joan Baez gọi điện về nhà cho con trai, kể lại cảnh mình phải trú ẩn trong căn hầm vào mùa đông khắc nghiệt năm 1972 khi máy bay B52 ném bom rải thảm xuống Hà Nội và các vùng lân cận. Với sự giúp sức của một tay guitar người Việt, bằng giọng ca trầm ấm, gợi cảm, nữ ca sĩ người Mỹ này đã cất lên tiếng hát ngay trong hầm trú ẩn, vừa như động viên vừa như nhắn nhủ mọi người hãy vững lòng.

Cửa vào căn hầm trú ẩn ở khách sạn Metropole

Một nhân chứng sống khác, nhà báo truyền hình Philippines  Gemma Cruz Araneta, đã mô tả căn hầm một cách sống động và giản dị: “Nơi trú ẩn của khách sạn là căn phòng bê tông dài và hẹp, nơi mà tôi tưởng tượng có thể dựng thành một vũ trường sành điệu. Căn phòng có những chiếc ghế gỗ màu xanh lá cây xếp cạnh nhau. Dù không có điện, tôi vẫn nhìn thấy một chiếc quạt máy. Thật tình, người Việt Nam là những vị chủ nhà ân cần và chu đáo”.

Người đẹp đến từ Philippines từng đoạt giải hoa hậu quốc tế này cũng có nhiều kỷ niệm không thể quên về những đêm Hà Nội phải đối chọi với bom đạn Mỹ như một chứng nhân lịch sử: “Đêm 24-5-1968, vào lúc 12 giờ 30 phút, tôi thức giấc vì tiếng súng cao xạ từ xa vọng tới… 2 giờ 30 phút, còi rú lên báo động máy bay địch. Hầu hết khách lưu trú đã tập trung ở sảnh khách sạn để xuống hầm trú ẩn” – Gemma Cruz Araneta nhớ lại.

Đón tiếp hàng trăm người nổi tiếng

Metropole là khách sạn sang trọng lâu đời nhất tại Hà Nội, đã tròn 100 tuổi vào ngày 6-4-2011. Nằm ở trung tâm thủ đô với một tòa nhà cổ kính mang đậm nét kiến trúc Pháp, suốt một thế kỷ qua, khách sạn này đã gắn bó với từng bước đi của Hà Nội.

Theo ông Augustin, lịch sử Metropole sẽ được tái hiện bằng các băng video chiếu dọc chiều dài 18 m hành lang của khách sạn, gồm những hình ảnh phục hồi từ những ngày đầu mở cửa, những dấu mốc thời gian, giới thiệu hơn 300 vị khách nổi tiếng đã từng nghỉ tại đây như vua hề Charlie Chaplin, minh tinh Jane Fonda, ca sĩ Joan Baez, ngôi sao Hollywood Angelina Jolie…

Bác tặng gậy cho 3 nhân sĩ Mỹ

Ông Cao Xuân Nhã cho biết suốt đời mình, có lẽ ông không thể nào quên chuyện Bác Hồ tặng gậy cho 3 nhân sĩ Mỹ để họ tiện đi xuống hầm trú ẩn trong khách sạn Metropole. Năm 1968, các nhân sĩ này sang thăm Việt Nam để ủng hộ cuộc đấu tranh của ta. Cả 3 người đều đã ở độ tuổi 80, đi lại khó khăn. Họ được Bác Hồ tiếp và nói chuyện thân mật. Thấy 3 nhân sĩ Mỹ tuổi đã cao mà lại phải xuống hầm trú ẩn, Người đã bảo Bộ Nội vụ đặt làm tặng họ 3 cây gậy gỗ tốt để chống đi cho an toàn.

Không thể kể hết sự xúc động của 3 nhân sĩ này khi nhận được món quà tuy nhỏ bé nhưng quý giá từ tay Hồ Chủ tịch.
Họ đã hứa với Người khi quay về nước sẽ làm hết sức để lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam.
BÍCH DIỆP

Câu chuyện chủ nhật: Thơ và sự lạm phát Thơ – badamxoe/BS

20 Tháng 5

Nhà văn Nguyễn Hiếu

“Tôi viết bài này đã lâu, cũng chẳng muôn đăng làm gì vì thiết

Nhà văn Nguyễn Hiếu

nghĩ dù sao tôi cũng nghĩ đến cái tình anh em. Nhưng khổ một nỗi có thể do trình độ tôi có hạn nên tôi không hiểu vì sao Hội Nhà văn lại tán tụng thứ thơ “lai căng như kiểu ngưòi nứoc ngoài nói tiếng Việt không sõi”, làm hỏng thẩm mỹ của ngưòi đọc thơ, làm băng hoại ngôn ngữ Việt Nam muôn ngàn yêu quí của chúng ta, nên sau đôi hồi nghĩ ngợi, tôi quyết định cho Bà Đầm xòe công bố bài viết này. Có thể đúng,có thể sai về những ý kiến của tôi, rất mong anh em  xa gần góp ý, dậy bảo. Vẫn biết là một hội viên Hội Nhà văn, bài viết này sẽ có thể ít nhiều làm nhiều vị lãnh đạo hội không hài lòng. nhưng vì tồn vong của thi ca, sự trong sáng của tiếng Việt,  tôi quyết định cho đăng. Cám ơn những ai đọc bài này.

Vì sao thơ bung ra đến độ lạm phát?

 

Có một mệnh đề trong lí luận kinh điển theo chủ nghĩa đang bao trùm lên thể chế  này mà bất kì một ông cán bộ nào có chút địa vị của xã hội ta mặc dù chả biết gì về triết học, kinh tế học nhưng rất thích nhắc đến đó là “hạ tấng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc”- Diễn nôm ra, tức là cơ sở vật chất tác động quan trọng đến suy nghĩ, tư duy. Chả biết câu này đúng sai thế nào nhưng nhìn vào sự phát triển thơ đối chiếu với nền kinh tế nứơc ta thì quả là như vậy. Gần chục năm nay nưóc ta đi vào cơn khủng hoảng kinh tế chưa từng thấy biểu hiện qua chỉ số lạm phát kỉ lục. Chưa đầy một thập kỉ mà giá trị đồng tiền giảm tới hơn mười lần khiến giá cả tăng vọt, dân tình điêu đứng. Vậy mà trong thời gian này, thơ – một thứ sản phẩm trí tuệ ra đời từ những bộ óc siêu việt trong thời thịnh trị, dân an quốc vượng thì trong thời lạm phát mọi mặt của nước ta, thơ bỗng nhiên trở thành sản phẩm gia tăng vùn vụt của đủ hạng người, trong đó có thứ người no cơm ấm cật đang cần một cái danh mang tính hào hoa, phong nhã. Vì lẽ đó thơ cũng theo kinh tế mà rơi vào tình trạng lạm phát ghê gớm.

Ngoài nguyên nhân do ham muốn của số người thích mua danh ba vạn thì còn thêm hàng loạt nguyên nhân khiến sự lạm phát thơ ngày càng mạnh mẽ. Thứ ngưòi gọi là “nhà thơ”sinh sôi nhanh hơn cả chuột – giống động vật đẻ vô tội vạ – đến độ có người đã báo động cầm một hòn sỏi ném vu vơ ra ngoài đường thì thể nào cũng trúng một nhà thơ. Sự lạm phát này đã làm thơ, một thể loại cao quí, bị tầm thường hóa đến độ không ít người phát sợ.

Có người khi vui miệng đã đề nghị nên thành lập một trại “cai nghiện thơ”, và trước cửa nhà người,  không muốn bị làm phiền vì thơ ca, đã để tấm biển “đề nghị để giầy, dép và thơ ở ngoài”.

Nguyên nhân thứ hai khiến thơ trở thành lạm phát phải kể đến là d đặc trưng ngôn ngữ xứ ta dễ bắt vận, dễ nói thành vần – không phải ngẫu nhiên những kẻ tâm thần, đầu óc không bình thường hay nói vần, thích đọc vè là vì vậy.

Một tác động làm thơ tăng như một đại nạn là cơ chế bỏ tiền ra in thơ. Thời mọi sự còn tử tế để in một tập thơ thì chí ít phải là nhà thơ đàng hoàng có môn bài, có danh là Hội viên Hội Nhà văn. Nay thì bất kì một vị nào có tiền khi đã no chán mọi thứ chơi vật chất như chó cảnh, chìm muông …lại có đôi chút khả năng biết bắt vần viết ra những câu có đôi chút nhịp điệu là loay hoay thế nào cũng chôm một ít tiền vợ mang đến các nhà xuất bản xin giấy phép in thơ mình. Ông nào rủng rỉnh tài chính còn thuê một vài cây bút đôi chút có danh để viết bài giới thiệu. Và, nếu chỉ căn cứ vào những bài tựa các tập thơ này thì dân An nam ta sẽ hí hửng tưởng xứ ta đang được ông Hoàng Mười phù hộ nên mới mọc ra nhiều đệ tử của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm , Puskin, Gớt đến thế.

Trong sự cấp giấy phép in thơ này thì Nhà xuất bản Hội Nhà văn – một nhà xuất bản có một thời danh giá nay trở thành một tổ hợp thủ công chuyên cấp giấy phép để in thơ.

Một nguyên nhân nữa để thơ bung ra như mối gặp trời mưa là hai ông chánh, phó chủ tịch, ông Trưỏng ban Tổ chức Hội Nhà văn đều là nhà thơ.

Ông chủ tịch Hội thì với thơ ai cũng đều có câu khen rất tài hoa trong ngôn từ, mặc dù hình như ông chẳng đọc thơ của ai bao giờ, trừ những tập ông được mời viết lời tựa.

Câu bình cửa miệng của ông mỗi khi nói về thơ ai cũng hao hao như nhau “Nhan sắc lắm, lay động lắm ”.

Làm thơ và đựơc gọi là nhà thơ trong thời lạm phát dễ như thế nên người ta đổ xô làm những thứ gọi là thơ. Viết một truyện ngắn, một vở kịch và cao hơn cả là một tiểu thuyết thì cực khó, còn để đẻ ra một bài văn vần gọi là thơ thì quá dễ. Vì vậy thơ bung ra nhan nhản, từ ông thứ trưởng đương chức đến các sinh hoạt hội người cao tuổi, đều ngày ngày cặm cụi gò lưng làm thơ để hi vọng đựơc gọi và đựơc tự phong là nhà thơ.

Thơ lạm phát kéo theo sự gia tăng khủng khiếp một thứ, đó là ngưòi đựơc gọi là nhà thơ. Vì nhà thơ có vai vế trong hội nghề như vậy nên những đợt kết nạp và những giải thưỏng hàng năm đầu nghiêng về ngưòi làm thơ và thơ.

Với tình trạng này, danh hiệu và giải thưởng một thời cao quí là Hội viên , giải thưỏng Hội Nhà văn Việt Nam bỗng bị hạ thấp rất nhiều, nếu không muốn nói là rẻ rúng khi chỉ cần có trong tay hai ba tập thơ tự in, chất lượng nhàng nhàng, nhưng được sự chiếu cố của ông trưỏng ban, ông Chủ tịch hội thì sớm muộn sẽ được vào hội.

Còn giải thưỏng thì thật tuỳ hứng, nếu không muốn nói là giải thưỏng này đã được chỉ đạo theo kiểu chỉ định thầu trong kinh tế.

Tôi không tin dư luận cho rằng, vì yếu tố kinh tế nên năm nào Hội Nhà văn cũng kết nạp hàng đống các vị làm thơ chỉ ở trình độ nghiệp dư vào hội viên.

Nếu đây là sự thật thì nó có khác gì sự mua quan bán tước đang hoành hành ở nứoc ta.

Và như để chứng minh cho sự đúng đắn trong chiến lược phát triển hội viên Hội viên Hội Nhà văn Việt Nâm nên trên dưói một thập niên vừa qua, giải thưởng hàng năm, nhiều tập thơ xoàng xoàng đựơc các vị có chức quyền trong Hội Nhà văn để mắt tới, đã trúng giải.

Hiện trạng này đến năm 2011 vừa qua đã trở thành điển hình.

Ngoài hai tác phẩm cũng chẳng lấy gì làm đặc sắc lắm của hai ông Ủy viên Ban chấp hành thì có không ít các tập thơ của đám viết thơ trẻ.

Về thơ trẻ tôi xin mượn cách đánh giá của nhạc sĩ Văn Dung khi nói đến nhạc trẻ “đó là kiểu thơ chỉ để ý đến hình dáng, điệu bộ. trang phục mà quên đi nội dung, chất giọng”.

Cũng trong động tác để nhấn thêm sự khẳng định đúng đắn trong sự phát triển hội viên, sự phát triển đáng tự hào của phong trào thơ nước nhà của các vị lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam, ngưòi ta đã tổ chức hàng loạt các cuộc hội thảo để tôn vinh một vài nhà thơ, xem như một biểu tượng, một thứ “đề can” cho hiện trạng thơ phát triển ầm ĩ đến lạm phát như hiện nay (sự hội thảo này có lẽ chỉ đúng nhất khi nói đến thơ của Đồng Đức Bốn- một tài năng vượt trội trong thể thể lục bát đặc sản của thi ca Việt Nam).

Thử bàn về cái gọi là hiện tượng thơ Mai Văn Phấn .

Như trên tôi đã nói, số lượng các tập thơ ra đời hàng năm, từ khi có cơ chế tự in cùng với sự dễ dãi, mất công bằng trong việc kết nạp người làm thơ vào Hội Nhà văn thì hàng năm cả nứơc ta không dưới hai, ba ngìn tập thơ được xuất bản, và mỗi năm có hàng nghìn người tham gia vào đội ngũ làm thơ (đọc thơ dễ hơn đọc văn (vì nó phù hợp với sự lười đọc đang bao phủ toàn bộ nền văn hoá đọc của xứ ta). Vì thế, người ta không lấy làm lạ khi Nhà văn Tuyết Sương TPHồ Chí Minh, tác giả 5 cuốn tiểu thuyết trong đó có cuốn “cô y tá nhỏ” khá nổi tiếng, rồi nhà văn Trần Chiến, tác giả cuốn tiểu thuyết vào hàng xuất sắc bao năm vẫn không được các vị trong Ban chấp hành để mắt tới).

Không gì dễ hơn khi tự tạo lập cho mình danh hiệu nhà thơ. Tôi biết có một người không hề có chút thiên bẩm nào trong sáng tác văn nghệ, nhưng có thể cho ra đời mọi tác phẩm đủ mọi thể loại: cầm kì, thi, họa, trừ tiểu thuyết.

Thời buổi thưong mại này,l khi người ta có tiền thì muốn thành nhà gì cũng được, trừ thành một tiểu thuyết gia, huống hồ làm một nhà thơ.

Trên số lượng về thơ và nhà thơ mà hai ông nhà thơ chánh phó, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã cố tạo ra vài cái đỉnh khẳng định sự thắng lợi của sự bội thu thơ. Sự biểu dương và tôn vinh cố ý thơ Mai Văn Phấn là một trường hợp như thế.

Phải công nhận về mặt phương pháp luận thì Mai Văn Phấn tỏ ra khôn ngoan khi chọn một kiểu thơ “không phải là thơ”, một thứ văn xuôi cắt ngắn, một cách viết giống hệt bản dịch ra tiếng Việt từ tiếng nứơc ngoài của người đang ở độ tuổi trí tuệ còn chưa lú lẫn. Trong khi hầu hết những người viết thơ đang sáng tác theokiểu cú pháp, hình thức thơ cũ kĩ, mà trong chiều sâu của tâm hồn và nhận thức của họ, cũng thấy không mấy hấp dẫn thì Mai Văn Phấn quả là khôn ngoan đi theo một lối đi tưởng như mới trong làng thơ ta hiện nay.

Nhưng đọc kĩ một chút thì thơ Mai Văn Phấn là sự lặp lại hiện tượng giống như thơ của Nguyễn Quang Thiều cách đây trên dưới hai mươi năm. Hồi đó NguyeenxQuang Thiều đang sung sức, cũng bắt đầu nhàm chán cáí lối thơ và tư duy thơ cổ lỗ của các bậc đàn anh đi trứơc, lại sẵn có khả năng ngoại ngữ nên Thiều đã chọn con đưòng mô phỏng thơ nứơc ngoài, chủ yếu là thơ tiếng Anh mà ít nhiều tôi nhìn thấy tựa tựa cách viết theo những bài thơ lừng lẫy trong tập lá cỏ của Witman.

Thơ Thiều thủa sung sức giống hệt như những bản dịch từ thơ nứơc ngoài.

Cũng xin nói thêm khi Nguyễn Quang Thiều làm những bài thơ này, cũng là lúc nền văn chương nước ta đã bắt đầu đổi mới. Các cây bút đã chán ngấy một kiểu văn chương minh hoạ, những câu thơ cũ kĩ nặng chất truyền thông, thì Thiều quả là khôn ngoan khi đem đến cách viết mới mà thực ra là sự mô phỏng lối nghĩ, lối câu trúc của thơ nứớc ngoài.

Thời đầu đổi mới đó văn xuôi còn để lại Nguyễn Huy Thiệp trong sự phá phách lật đổ các thần tượng, giải thiêng những điều húy, kị;  còn trong thơ thì ồn lên sự làm mới của thơ Thiều .

Tôi chỉ hơi lạ, trong văn xuôi, Thiều có những cách viết có cảm hứng hướng về làng quê thôn giã (tiêu biểu là truyện ngắn “‘mùa hoa cải bên sông”), thì trong thơ Thiều “sự cách tân” lại hướng ngoại mà thực chất là sự mô phỏng thơ nước ngoài.

Hơn hai hai mươi năm sau, Mai Văn Phấn lại rập lại cách đi đó của đàn anh.

Điều này cắt nghĩa, vì sao hai ông nhà thơ chức dịch của Hội Nhà văn bỗng nhiên lại tán tụng thơ Mai Văn Phấn và kéo theo hàng đống các vị, một là theo voi ăn bã mía, hai là sợ mình bị đánh giá là ngu dốt khi không tán dưong thơ Mai Văn Phấn theo kiểu Trạng Quỳnh đã từng diễu “địt mẹ thằng nào bảo thằng nào”.

Ngôn ngữ, tư duy của ngưòi Việt ta khác hẳn ngôn ngữ, cách tư duy của người nứơc ngoài.Vậy mà, Nguyễn Quang Thiều và nay Mai Văn Phấn lại tung ra những đoạn chữ mà ngưòi ta gọi là thơ cùng những suy nghĩ gần như rập lại cách nói, cách tư duy của ngưòi nước ngoài, cụ thể là tư duy của dân đất mới châu Mỹ. Trong suy nghĩ người Việt rất kiêng kị khi nói về quạ (theo quan điểm cổ xưa đó là loài chim chuyên mang điều gở ), nay Mai Văn Phấn lại mô phỏng cách nghĩ nứơc ngoài, cũng nói về con quạ với những câu gọi là thơ, giống như thơ dịch, với kiểu tư duy và cách đặt câu xa lạ với ngôn ngữ, cách tư duy truỳên thống của người đọc xứ ta

“Con cá nhẩy vào đám mây tự vẫn”-  Biến tấu con quạ.

Rồi lảm nhảm, loằng ngoàng nói về mái nhà như một người ngớ ngẩn đang học nói tiếng Việt:

Thùng rác quay mắc phải khung ảnh, quạt trần, dây điện thoại. Chiếc quần lót mặc kẹt giữa tủ bát đĩa và máy tập thể hình. Chổi cùn, bình diệt muỗi, đĩa CD chui vào tủ lạnh …- Chạy theo mái nhà.

Trời ạ! Thế mà ngưòi ta dám gọi là thơ thì thật là liều.

Tôi còn nhớ Chế Lan Viên đã từng có ý định cách tân hình thức thơ bằng kéo dài câu thơ một cách bất thường. Dạo đó ta gọi là thơ văn xuôi. Đọc lại bài thơ tiêu biểu cho sự cách tân này của ông là bài : những cành phong lan bể:

“ xanh biếc mùa thu bể như hàng nghìn mùa thu còn tâm hồn nằm đọng lại/ Sóng như hàng nghìn trưa xanh trời đã tan xanh thôi không trở lại làm trời/ Nếu núi làm con trai thì bể là mùa thu đã biến thành con gái , mỗi đêm ngày da thịt sóng sinh sôi”.

Ta vẫn thấy một cách nghĩ Việt Nam, những âm điệu của ngôn ngữ Việt cực kì thơ ẩn dấu trong hình thức văn xuôi mang đặc trưng mà chỉ có thơ mới có.

Còn đọc thơ Mai Văn Phấn chỉ thấy những câu văn không ra văn, thơ không ra thơ, mang đủt hứ suy ngĩ vớ vẩn, theo kiểu bạ đâu nói đó. Tối nghĩa và hạ thấp rất nhiều, chẳng những thể loại thơ, mà còn làm mất đi vẻ đẹp, sự trong sáng của tiếng Việt.

Tôi nhớ trong làng thơ xứ ta hiện nay, không ít vị làm thơ muốn đổi mới sự thể hiện thơ. Điều này là một yêu cầu chính đáng, cần khuyến khích. Nếu Lê Đạt muốn cách tân bằng sự đảo lộn cú pháp, trật tự ngữ pháp để tạo ra sắc thái mới của thơ, Lê Huy Quang cũng đi theo hứơng này và cũng có ít nhiều thành công, hay Nguyễn Đình Chính cách tân bằng đưa ngôn từ trầm tục vào thơ ..

Nhưng, dù tôi không tán thành việc dung tục hoá trong thơ Chính, nhưng vẫn phải công nhận NguyễnĐình Chính, ngoài tư cách là một tiểu thuyết gia ưa tìm tòi, thì ông là một nhà thơ đầy nội lực thi ca. Nội lực này lại càng đựơc đẩy lên khi chất công dân của ông được thể hiện một cách dữ dội và bản lĩnh trong những câu thơ muốn phá bung khuôn khổ …

Hoặc ca từ trong những ca khúc tài danh của Trịnh Công Sơn. Trong những ca từ mang nặng chất thơ của Trịnh Công Sơn, nếu tách ra từng dòng hay để hiểu trực diện nghĩa thì thật khó, nhưng ở những ca từ đó tràn ngập sự hư ảo, lung linh, cao siêu của triết ly thiền, nên tạo ra quá nhiều tầng nghĩa mà ngưòi đọc chỉ cảm chứ không thể diễn thành lời một cách rành mạch.

Trở lại thơ Mai Văn Phấn. Để chứng minh thơ Mai Văn Phấn là hiện tượng đổi mới thơ ca, Hội Nhà văn không ngần ngại tiến hành một loạt hoạt động để ghi nhận hiện tượng này. Làm hội thảo, rồi trao giải thưởng cho Mai Văn Phấn và trao giải cho các cây bút trẻ có lối viết hao hao như Mai Văn Phấn, như Đỗ Dõan Phương.

Xin đọc mấy câu mà ngưòi ta cố gọi là thơ của cây bút trẻ này:

“Bây giờ là quãng đường dài nhất/ mọi ngưòi giúp cô tiền đò, tiền đường/ và bắc những cây cầu bằng vải đỏ / hát những câu an ủi dặn dò…/ khắc ghi vào đầu khuôn mặt già nua của cô để từ nay nhớ hoặc sợ - Thăm vườn nhà cũ.

Kì quặc thật. Thế này mà người ta gọi là thơ thì tôi nghĩ, một là ngưòi đó bị nhiễm sự lai căng dở dang của kẻ quá yêu tiếng nứơc ngoài chê bai tiếng mẹ đẻ, hai là cái đầu đó có vấn đề về tâm thần.

Tôi có cảm thấy một chu kì đã thành qui luật là mỗi khi ngưòi ta tôn vinh thứ thơ lai căng này thì cũng là lúc các nhà thơ của ta đang đi vào bế tắc, cả trong tư tưởng và cách biểu hiện.

Thơ Mai Văn Phấn và một số tập thơ nhận giải thưởng của Hội Nhà văn năm 2011 không chỉ là những ví dụ cho sự bế tắc mà còn vô tình tạo ra một thứ sai lầm khi làm hỏng thẩm mỹ về thơ của ngưòi đọc Việt nam, làm rối ngôn ngữ nước ta, trong khi đáng ra với chức phận nhà thơ phải làm cho ngôn ngữ này ngày càng đẹp hơn,dân tộc hơn và trong sáng hơn.

Khi viết đến thơ Mai Văn Phấn tự nhiên tôi lại nghĩ đến đề xuất thu phí phượng tiện giao thông cá nhân của ông Bộ trưởng Bộ GTVT- Đinh La Thăng: vô lý, cửa quyền, tai hại cho đời sống của ngưòi dân. Nó cũng hao hao giống Hội Nhà văn cố trao giải cho những tập thơ này, như là sự cưỡng ép thiên hạ phải công nhận thơ lai căng như thơ của Mai Văn Phấn và một số nhà thơ trẻ như là thành tựu của nền thơ Việt Nam đưong đại. Buồn thay!

                                                    Quỳnh Mai 6/4/2012

                                                Nhà văn Nguyễn Hiếu

Thế giới đã ra khỏi trật tự ‘đơn cực’ – vnn

20 Tháng 5

Khi các lãnh đạo nhóm các quốc gia công nghiệp G-8 nhóm họp tại Trại David vào tuần này, có rất nhiều câu chuyện đề cập về vai trò lãnh đạo toàn cầu, cũng như tầm quan trọng của vai trò này đối với một thế giới đang dễ xung đột nhưhiện nay.

 

 

Trong một thế giới mà quá nhiều thách thức tràn qua các biên giới — các mốiđe dọa tới ổn định kinh tế toàn cầu, biến đổi khí hậu, xung đột mạng, chủ nghĩa khủng bố, và các mối đe dọa tới nguồn cung thực phẩm, nước.. – thì nhu cầu hợp tác toàn cầu trở nên lớn hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, hợp tác còn phụ thuộc vào vai trò lãnh đạo. Chỉ có các lãnh đạo toàn cầu mới có đà để phối hợp các phản ứng đa quốc gia nhằm đối phó với các ấnđề xuyên quốc gia, cũng như đủ ‘tiền bạc’ và quyền lực để thuyết phục các quốc gia đưa ra hành động mà họ không thể thoái thác. Chỉ có họ mới đưa ra các dịch vụ mà không ai sẽ chi trả và các nguồn lực mà không ai có thể đáp ứng được. Các lãnh đạo này cũng đặt ra nghị trình cho hết vấn đề này đến vấn đề khác.

Không may thay, lần đầu tiên trong suốt bảy thập kỷ qua, thế giới vắng bóng lãnh đạo. Tại Mỹ, núi nợ đã chất lên cao ngất, khả năng phục hồi mong manh từsau Đại Suy thoái, và tình trạng tê liệt về chính trị của Washington đã dấy lên các mối lo ngại rằng Mỹ sẽ không thể đáp ứng nổi vai trò lãnh đạo suốt từ thời hậu chiến. Còn trên khắp Đại Tây Dương, cuộc khủng hoảng nợ đã làm châu Âu rung chuyển, cả thể chế, cả tương lai của châu lục này.

Còn tại Nhật, công cuộc tái thiết lại sau ba thảm họa liên hoàn năm 2011 -động đất, sóng thần, hạt nhân, cho thấy việc khôi phục lại sau thiên tai rõ ràng dễ dàng hơn so với việc khôi phục sau hai thập kỷ bất ổn về kinh tế, chính trị,một tình trạng tê liệt đã khiến chính phủ Nhật ít hào hứng và sẵn lòng đóng góp vào các dự án quốc tế.

Canada đã thành lập nên G-7, nhóm các nền dân chủ thị trường nhằm thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu. Giờ đây, các nước này đang chật vật tìm lại nền tảng của mình.

Nhưng, các quốc gia đang nổi đầy hứa hẹn nhất thế giới lại chưa sẵn sàng đểlấp đầy khoảng trống này. Các lãnh đạo Trung Quốc đang được chú ý hơn bao giờ vềcác kế hoạch chính sách đối ngoại của họ với các thực thi quan trọng trong giaiđoạn tới cho việc phát triển trong nước. Tuy nhiên, giống như những người đồng nhiệm Brazil, Ấn Độ và Nga, họ vẫn rất bận tâm tới các thách thức phức tạp trong nước và còn lâu mới chấp nhận các rủi ro và gánh nặng khi đảm nhận vai trò lãnhđạo lớn hơn trên trường quốc tế.

Ngay đến cả các thể chế đa quốc gia cũng không có vẻ như muốn bước vào địa hạt này. Các nhóm quyền lực mở rộng như G-20 bao gồm các quốc gia với các bấtđồng giá trị kinh tế chính trị chỉ có thể tạo nên các giải pháp đồng thuận cho mọi vấn đề khi chúng đã trở thành khủng hoảng thật sự — và cũng chỉ khi mà mọi thành viên quyền lực nhất trong cả nhóm đang bị đe dọa. Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế không có lực đẩy về chính trị hoặc tài chính như trước, và mọi đối thủ cạnh tranh trong Hội đồng Bảo an LHQ hiếm khi hợp tác một cách có chủ ý. Trước mắt, nền chính trị quốc tế và nền kinh tế toàn cầu đã bước vào một giai đoạn quá độ, một giai đoạn mà tác giả gọi là trật tự “G-0″. Ngày nay, không có bất kỳ một cường quốc nào, hoặc một liên minh quyền lực nào có thể tạo ra một vị thế lãnh đạo quốc tế thích hợp.

Thế nhưng, bản chất tự nhiên lại không hề ưa tình trạng ‘trống vắng’ này, và giai đoạn quá độ này không thể kết thúc một cách mơ hồ. Các chính quyền sẽ không chấp nhận các phí tổn và rủi ro cho tới chừng nào họ tin là họ phải làm vậy –và cho tới khi mà họ hiểu rằng những người khác sẽ không làm điều đó cho họ.Cũng giống như khi Chiến tranh Thế giới II đã tạo ra một trận tự tài chính thếgiới mới tại hội nghị Bretton Woods, nâng Mỹ lên vị thế siêu cường, đó cũng gần như sẽ mang theo một mối họa nào đó, hoặc nỗi sợ ám ảnh rằng tai ương sẽ xảy ra vào một ngày nào đó để hoài thai một trật tự toàn cầu bất trắc nào đó.

Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra tiếp đây, và ai sẽ lãnh đạo thế giới mới này?

Câu trả lời cho hai câu hỏi then chốt này này sẽ định hình nên cán cân quyền lực hậu G-0. Trước tiên, liệu các vấn đề phát sinh từ việc vắng bóng vai trò lãnh đạo này có buộc Mỹ và Trung phải hành xử như đối tác hay không, hay là các vấn đề đó sẽ đẩy cả hai vào thế đối địch?

Hiện nay, không có bất kỳ quan hệ thương mại và chính trị nào quan trọng đối với nền hòa bình và thịnh vượng của thế kỷ 21 hơn là quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh. Nếu như các công ty của Mỹ tiếp tục thu được lợi nhuận tại Trung Quốc, họ sẽ có phần trong thành công của Trung Quốc và có quan hệ bền vững với Bắc Kinh — buộc Nhà Trắng và các nhà lập pháp Mỹ tránh các xung đột không cần thiết. Nói cách khác, nếu như các công ty Trung Quốc sử dụng ảnh hưởng ngày càng tăng của họ bên trong bộ máy quan liêu của Trung Quốc để luồn lách các quy tắc mới nhằm lật lọng trong cạnh tranh theo hướng của họ, thì các công ty Mỹ sẽ đẩy cả hai chính quyền theo hướng cạnh tranh chính trị hung hăng hơn.

Có cả tá viễn cảnh như vậy có thể khuyến khích hợp tác hoặc khơi dậy thù hằn giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới. Chẳng hạn, một cú sốc sẽ đẩy giá dầu lên cao có thể khiến cho các quan chức Mỹ và Trung Quốc có chung mối quan tâm trong việc giảm sự phụ thuộc của họ vào năng lượng hóa thạch, nhưng một vụ tấn công mạng của bên này nhằm vào bên kia lại có thể dẫn đến một sự đáp trả liều lĩnh vềmặt chính trị.

Câu hỏi then chốt thứ hai: Liệu Trung quốc và Mỹ sẽ thống trị về địa chính trị, hay là trái lại, một số cường quốc mới nổi và thiết lập sẽ chia rẽ nhiều hơn? Nếu như các nền kinh tế cốt lõi và ngoại biên có thể hài hòa được các chính sách và tái thiết lập lòng tin trong khu vực đồng tiền chung, châu Âu vẫn sẽ là một lực lượng được tính đến. Nếu như Nhật có thể tái tạo sinh lực tăng trưởng và phát triển một hệ thống chính trị có thể khơi dậy lòng tin của công chúng, có thể họ sẽ là một nhân tố quốc tế năng động và quyết đoán.

Nếu như Ấn Độ có thể tự do hóa hơn nữa nền kinh tế của mình và quản lý lượng người di cư từ các vùng nông thôn ra thành phố, họ có thể đối trọng lại với ảnh hưởng của Trung Quốc tại châu Á. Nếu chính phủ Brazil có thể kiểm soát tốt lạm phát và quản lý phát triển tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, cường quốc MỹLatinh này có thể mở rộng đáng kể ảnh hưởng của mình.

Bằng cách đặt quan hệ Mỹ – Trung trong một trục biểu đồ và các quốc gia khác, ta sẽ có một mô hình cho viễn cảnh hậu G-0 như sau:

Hình này cho chúng ta bốn góc khác nhau. Nếu như Mỹ và Trung trở thành hai cường quốc mạnh nhất thế giới, và hiện tượng G-20 phù hợp với các lợi ích của họ, chúng ta có thể sẽ thấy một trật tự mới nổi lên, mà trong đó Washington và Bắc Kinh cùng có lợi trong việc chia sẻ gánh nặng. Có thể gọi tên đây là viễn cảnh G-2. Nếu nhưMỹ và Trung Quốc cùng hợp tác với nhau, chia sẻ vai trò lãnh đạo với các cường quốc khác, chúng ta sẽ thấy một sự hòa hợp giữa các quốc gia có thể mang lại sựhợp tác thật sự trong một thể chế mạnh mẽ như G-20.

Nếu Mỹ và Trung Quốc trỗi dậy mạnh hơn mọi liên minh của các quốc gia khác, và G-0 đẩy cả hai về hướng xung đột, tính chất cạnh tranh sẽ buộc các chính phủkhác phải lựa chọn các bên, hoặc là chật vật đứng bên ngoài quỹ đạo. Có thể gọi viễn cảnh này là Chiến tranh lạnh 2.0.

Nhưng nếu như Washington và Bắc Kinh thấy mình lạc lõng với các quốc gia mạnh khác, quyền lực toàn cầu sẽ chia thành một ‘thế giới của các khu vực’ mà trongđó, các cường quốc khu vực cố gắng thống trị trong khu vực của riêng họ.

Các viễn cảnh này cho thấy sự cực đoan, và tương lai sẽ bao gồm sự kết hợp của ít nhất hai trong số các viễn cảnh này.

  • Lê Thu (theo FP)

Bồi bút bán nước hại dân mãi vẫn là bồi bút ! – BS

20 Tháng 5

 

PVTD đang làm rõ quan hệ giữa Vũ Mai Phong – phó tổng GĐ của Vihajico – với nhóm ” thương binh nặng”. Ảnh : Dantri
Vụ gây rối của các ” thương binh nặng ” hôm vừa rồi tại Viện Hán nôm đã được các phóng viên tự do đăng tải ngay lập tức, liên tục và khá đầy đủ trên mạng xã hội : Faceboook, các blog của các trí thức và cộng đồng bloggger. Thế nhưng bỗng dưng từ đâu lòi ra hai bài viết của hai báo Quân đội nhân dân và Cựu chiến binh đưa tin hoàn toàn dối trá và bịa đặt – cho dù QĐND chỉ đưa lên mạng, tồn tại  hơn tiếng đồng hồ  ban đêm rồi rút  nhưng cũng đã được lưu trên các mạng xã hội – khiến cộng đồng mạng nóng lên bởi những bất bình của bạn đọc.
Bịa đặt trắng trợn thô bỉ rồi ..rút bài.
Báo CCB cũng ăn theo nói leo rất ngu ngơ.
   Sự việc diễn ra tại hiện trường chỉ trong 2 phút đầu đã có các phóng viên tự do, cả một nữ phóng viên của RFI có mặt ngay lập tức sau khi ảnh của Cụ lê Hiền Đức gửi cho Ba sàm vào lúc 9 am 02 phút. Chỉ 6 phút sau ảnh đã đăng lên với nội dung vụ việc : ” các thương binh đi trên 3 xe ba bánh và hai xe máy PCX đã đến viện Hán nôm lúc 9 giờ kém 10, gạt bảo vệ ra và đi thẳng lên khu tầng 3, nơi thư viện có TS Diện đang làm việc cùng hai nhân viên nữ! “
Nguyễn Vinh Công.
Chu Vinh Quang – Đeo tai nghe Blutooth và vuốt hổ dài hơn chục cm, khi báo CCB phỏng vấn thì bỏ ra, thay áo khác.
Cầm đầu tên là Đồng.
Vị này chửi bậy nhất.
Cầm đầu nhóm thương binh này là một người có tên là Đồng – hiện là giám đốc công ty CP TMDV CCB  tại phố Xã đàn ( Kim Liên mới ). Trước đây Đồng từng làm thuê cho ông chủ Đường ” bia” tại Hà nội, chuyên làm nhiệm vụ ” chuyên môn” của mình là : an ninh, bảo vệ…
   Phóng viên tự do đã có đầy đủ thông tin về các vị ” thương binh nặng ” này, từ địa chỉ nhà riêng,  số di động, hoàn cảnh vợ con, đã từng tham gia vụ nào, đang kinh doanh làm ăn ra sao…vụ gây rối tại viện hán nôm do kẻ nào thuê, thuê bao nhiêu tiền ? vv…
  Cả nhóm sau khi chửi bới, coi thường  cả Thủ tướng ( gọi là thằng ) trong phòng làm việc của TS Diện thì bắt lập  ”biên bản”, nội dung như các bạn sẽ thấy trong clip dưới đây.
.C
http://webwarper.net/ww/www.youtube.com/embed/ThIpZZMXOmU?version=3&rel=1&fs=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent Một việc làm vi phạm pháp luật nghiêm trọng : đột nhập vào cơ quan vụ viện, nơi lưu trữ tài liệt quý, hiếm của Quốc gia, chửi thề bậy bạ, chửi cả Thủ tướng, cởi truồng ăn vạ, hành hung nữ nhân viên bằng ấm chén,  quăng bình cứu hỏa sách tay nhưng nữ nhân viên kia tránh được, khi ra sảnh của viện còn đấm vào mặt một nữ nhân viên khác rất thô bạo và côn đồ …những hành vi ấy cần phải được làm bằng chứng để truy tố đám côn đồ giả danh thương binh này ra vành móng ngựa.
Xe tự chế bao vây cổng viện lúc 9 giờ kém 10.
Đập phá, ném nhân viên nữ của thư viện bằng ấm chén và bình cứu hỏa.

Đám côn đồ vô học này cũng đã làm ảnh hưởng đến hình ảnh của hàng ngàn thương binh khác trên cả nước, họ đã bỏ xương máu nơi chiến trường để Đất nước có ngày hôm nay, tuy nhiên đám côn đồ kia đã phá hỏng tất cả, coi thường luật pháp, coi thường Nhân dân chỉ vì những đồng tiền bẩn thỉu do một nhóm lợi ích thuê mướn.  Vậy nhóm đó là nhóm nào ? dễ dàng nhận ra đó không phải là kẻ nào xa lạ. Gần đây Ecopark đang là một dự án bị Nhân dân cả nước lên án bởi những việc làm, hành động  ăn cướp nốt mảnh đất của Nhân dân Văn Giang trong ngày 24 tháng 4 vừa qua.  Chúng đã bỏ tiền thuê gần ba ngàn tên côn đồ, công an, với vũ khí tận răng xông đến cướp đất, phá hoa màu, đánh dân và cả nhà báo như cộng đồng đã thấy. Trang tin của TS Diện là trang duy nhất tường thuật trực tiếp từng phút diễn biến sự việc bằng những hình ảnh, thước phim gửi về từ hiện trường nóng bỏng. Vì thế chủ của dự án Ecopark là Vihajico đã cay cú do bị lột mặt, quan chức Hưng yên cũng bị lật tẩy bộ mặt núp sau lũ cướp, dối trên lừa dưới để hùa vào đám ma cô, nhóm lợi ích để quay lưng lại với Dân Văn gang – nơi chúng đang làm công bộc.  Những tư liệu làm căn cứ tố cáo nhóm lợi ích đã bỏ tiền ra thuê nhóm ” thương binh nặng” này đến gây rối tại Viện hán nôm đang được tập hợp, phóng viên sẽ công bố trong thời gian tới để rộng đường dư luận.  Dư luận cũng đang được nóng lên bởi ngay sau khi vụ việc diễn ra, Luật sư hà Huy Sơn đã gửi đơn trực tiếp đến hai vị Nguyễn Thế Thảo và Phạm Quang Nghị – những lãnh đạo của Thành phố Hà nội hòa bình – xanh -sạch – đẹp nhưng chưa được trả lời hay có hồi âm.  Giới  Luật sư, trí thức đang  có những động thái để chuẩn bị làm việc với hai báo QĐND và CCB trong những ngày tới, rất tiếc cho hai tờ báo mạng này bởi họ đã không cử phóng viên đến kịp thời để theo dõi diễn biến sự việc, gặp gỡ các nhân chứng, lấy tư liệu một cách khách quan mà chỉ ngồi phòng lạnh bịa đặt cốt lấy tiền nhuận bút hoặc ăn tiền của nhóm lợi ích nên đã gây hậu quả nghiêm trọng cho chính họ trước khi khiến  công luận bất bình.  Đích thân Cụ Lê Hiền Đức đã đến chứng kiến tại hiện trường, nắm được hầu hết diễn biến sự việc, Cụ đã gọi điện cho từ cấp phường đến cấp thứ trưởng, bộ trưởng công an, các cuộc gọi cũng đã lưu thời gian gọi – đó là bằng chứng mà phóng viên đã có được sau khi tiếp xúc  với  các nhân chứng.   Phóng viên cũng có những bằng chứng  về việc các an ninh chìm có mặt tại hiện trường cùng đám thương binh kia, công an phường Trung Liệt chỉ đến khi tàn cuộc lúc 11 giờ 25, trụ sở của họ cách Viện hán nôm có 400 mét, họ không làm được gì cả và  dường như đó là kịch bản đã được dàn dựng trước.

Một an ninh đến sau nhóm thương binh vài phút. Chỉ ngồi ngoài quán nước trà đá nhắn tin.
Hai thày trò công an phường Trung  liệt đến lúc 11giờ 30 khi xong xuôi hết rồi. Lãnh đạo mặc áo hoa, nhân viên mặc áo không biển tên tuổi gì.

Trong khi vụ việc diễn ra, điện thoại của vị thương binh cầm đầu tên Đông liên tục gọi điện báo cáo một  vị chỉ đạo, phóng viên cũng kịp thời ghi lại nhiều nội dung qua máy quay gồm hình ảnh và âm thanh rõ nét.   Phóng viên tự do sẽ tiếp tục cập nhật, cung cấp các chi tiết lên trang tin để bạn đọc theo dõi, nắm bắt được đầy đủ vụ việc này, tìm cho ra kẻ chủ mưu của vụ gây rối, bảo vệ hình ảnh của những thương binh chân chính, lột mặt nhóm lợi ích có bảo kê, đưa chúng lên các trang mạng xã hội.

Một số hình ảnh của nhóm  ” thương binh nặng : khi xong hợp đồng quấy rối, ra về được phóng viên chụp được hình ảnh :
Hai ‘ thuonwg binh nặng” xong hợp đồng ra về
Thủ lĩnh tên Đồng.
Hai vị khác,  một có tên là Nguyễn Vinh Công, một có tên là Chu Vinh Quang  đã về trước sau khi gặp các bạn bè của TS Diện, trong đó cũng có mấy thương binh xịn.

Mỹ: Trung Quốc bố trí 1200 quả tên lửa nhằm thẳng vào Đài Loan – GDVN

20 Tháng 5

(GDVN) – Trung Quốc vẫn bố trí cả ngàn quả tên lửa tầm ngắn ở vùng duyên hải Đông Nam hướng về phía Đài Loan, trong đó chủ yếu là tên lửa đạn đạo SRBM tầm bắn 1000 km, với 200 đến 250 dàn phóng.

Thông tấn xã Đài Loan CNA ngày 19/5 đưa tin, Báo cáo tình hình quân sự Trung Quốc năm 2012 của Bộ Quốc phòng Mỹ vừa công bố cho biết, Trung Quốc hiện có khoảng 1000 đến 1200 quả tên lửa tầm ngắn hướng về phía Đài Loan. 10 năm nữa, Bắc Kinh có cơ hội đóng tàu sân bay và cụm chiến hạm đi kèm.

Lực lượng tên lửa phòng không quân khu Thành Đô, Trung Quốc diễn tập hồi đầu tháng 5 (ảnh minh họa)
Đây là báo cáo về tình hình quân sự, quốc phòng Trung Quốc mà Lầu Năm Góc đệ trình Quốc hội nước này. Theo đó, tính đến tháng 10 năm 2011 quân đội Trung Quốc vẫn bố trí cả ngàn quả tên lửa tầm ngắn ở vùng duyên hải Đông Nam hướng về phía Đài Loan, trong đó chủ yếu là tên lửa đạn đạo SRBM tầm bắn 1000 km, với 200 đến 250 dàn phóng.
Theo báo cáo của Lầu Năm Góc, Bắc Kinh đã nâng cáp hệ thống tên lửa duyên hải đông nam, tăng biên chế quân chủ lực, nâng tầm bắn, độ chính xác cũng như bố trí các đầu đạn tên lửa tạo thành mạng lưới hỏa lực có sức sát thương lớn hơn trước rất nhiều.
Lực lượng xe tăng lội nước lưỡng thê quân khu Nam Kinh diễn tập đầu tháng 5 (ảnh minh họa)

Tàu sân bay Thi Lang mà Trung Quốc đang sửa chữa, trong giai đoạn đầu sẽ được dùng làm bàn đạp phục vụ huấn luyện, thường xuyên thử cơ động vận hành ra khơi, tuy nhiên khả năng tác chiến cất hạ cánh chiến đấu cơ trên tàu này trong thời gian ngắn sẽ còn nhiều hạn chế.

Đồng thời, tin tức tình báo từ phía Mỹ cho thấy Bắc Kinh đang nghiên cứu tự chế tạo 1 hàng không mẫu hạm, nhiều khả năng đã đi vào sản xuất một số bộ phận. Sau 2015 quân đội Trung Quốc có thực lực hải – không quân nhờ tàu sân bay, và trong 10 năm tới Bắc Kinh sẽ đóng được tàu sân bay và cụm chiến hạm đi kèm.
F-16C/D đang là chiến đấu cơ Đài Loan mong muốn sở hữu để đảm bảo cân bằng sức mạnh quân sự với Bắc Kinh

Trong một diễn biến khác có liên quan, Hạ viện Mỹ vừa biểu quyết thông qua gói hợp đồng bán 66 chiếc máy bay F-16C/D cho Đài Loan, nếu được Thượng viện Hoa Kỳ tiếp tục thông qua thì Đài Loan sẽ sở hữu số máy bay hiện đại này.

Việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan luôn là hòn đá tảng ngăn cản sự phát triển của mối quan hệ hợp tác giữa hai cường quốc Mỹ – Trung Quốc. Bắc Kinh nhiều lần phản đối, thậm chí hủy bỏ mọi hoạt động giao lưu quân sự với Washington sau mỗi lần có tin Mỹ sẽ bán vũ khí cho Đài Loan.
Tàu sân bay cũ Varyag Thi Lang sau khi sửa chữa, nâng cấp đã thực hiện cơ động thử trên biển lần thứ 6 thành công

Ngược lại, trong bối cảnh sức mạnh kinh tế, quân sự của Trung Quốc ngày càng gia tăng, đe dọa đến lợi ích và vị thế của Mỹ thì việc tăng cường quan hệ chiến lược với các đồng minh ở Đông Á, trong đó có Đài Loan sẽ là một trong những ưu tiên của giới chức quân sự Hoa Kỳ.

Hồng Thủy (nguồn CNA)

PHAN KHÔI: TÁC PHẨM ĐĂNG BÁO 1928 , Học trò đời xưa với quốc sự – viet-studies/BS

20 Tháng 5

 

Không ai có thể lấy ý riêng hoặc quyền riêng mà xui giục học trò nhúng vào quốc sự hay là cấm đoán học trò phải tránh xa quốc sự. Điều đó chỉ nhờ có lịch sử làm chứng. Cứ theo lịch sử  thì học trò với quốc sự dường như có quan hệ một cách riêng. Đương khi trong nước thái bình, trăm việc đâu ra đó, thì học trò chỉ biết một sự học; đến khi nước lắm việc, chánh phủ đổ đốn, trong quốc dân lại không có cái cơ quan gì chánh đáng để xét nét chánh phủ, thì bấy giờ đám học trò thường hay giấn thân mà can thiệp vào. Sự can thiệp ấy luôn luôn là hại cho học trò, và cũng là một điều bất hạnh cho nước. Vì trong những cơn như vậy, thế nào học trò cũng bị tù bị giết, và sau đó, chẳng kíp thì chầy nước cũng phải mất hay là chánh phủ cũng phải đổ. Coi như vậy thì sự học trò can thiệp đến việc nước là sự bất đắc dĩ, mà cũng là sự tự nhiên. Đã là bất đắc dĩ và tự nhiên, thì còn ai xui giục hay là ngăn cấm được ư?

Xét sử Tàu, đời nhà Đông Hán vào lúc Hoàn đế, bọn hoạn quan cầm cả quốc quyền, làm rối loạn mọi việc chánh trị, mà vua thì hèn yếu, các quan tại triều phần nhiều thì a dua với hoạn quan để cầu lấy giàu sang. Bấy giờ trường Thái học có đến hơn ba vạn học trò. Quách Thái và Giả Bưu làm lãnh tụ. Họ thấy triều chánh bậy bạ như vậy, đã không phương cứu chữa, mà trong tay mình cũng không sẵn quyền để đánh đổ đi, thì trong nhà trường nổi lên một thứ phong trào mới gọi là “thanh nghị”, cốt lấy cái thế lực của dư luận mà đàn hạch việc triều đình. Nhơn trong triều còn có Lý Ưng, Trần Phồn, Vương Sướng là mấy ông quan tốt, họ bèn hiệp đảng với ba người nầy, khen tặng nhau mà chế bác những kẻ làm bậy. Họ chỉ trích hết thảy, dầu kẻ có quyền thế mấy cũng không chừa. Bấy giờ từ hàng công khanh trở xuống ai cũng phải kiêng họ, nhiều kẻ vào đến cửa họ phải bỏ giày. Song le, bọn hoạn quan thì thù ghét đám học trò thanh nghị ấy lắm.

Lúc ấy có Vương Thành, người Hà Nội, giỏi nghề bói, chiêm nghiệm biết rằng sẽ có ân xá, khiến con trai mình đi giết người. Lý Ưng đương làm quan doãn Hà Nam, sai bắt giam đứa giết người ấy. Rồi đó quả có ân xá thật. Lý tức mình, bèn kết án nó và giết đi trước khi xá. Vương Thành nguyên lấy nghề bói giao thông với hoạn quan, nhơn thù Lý Ưng, xúi cho đồ đệ mình là Lao Tú dâng thơ cáo rằng Lý Ưng dung dưỡng sanh viên Thái học, giao kết với học trò các quận, lập thành bè đảng mà báng bổ triều đình, làm hư hại phong tục. Việc nầy xảy ra năm thứ chín hiệu Diên Hy đời vua Hoàn đế (lịch tây 116). Vua bèn xuống chiếu bắt bọn Lý Ưng và hơn hai trăm người học trò mà hạ ngục hết thảy. Giam cầm đã lâu mà tra ra không việc gì đáng tội cả, vả lại nhơn có người dâng sớ can, năm sau, vua bèn tha cho “đảng nhân” ở đâu về đó, song phải ghi tên tại quan, những người ấy cả đời không được đi đâu, không được làm gì, gọi là “cấm cố chung thân”.

Bọn đảng nhân ấy về ở mỗi người một nơi, dầu bị cấm cố mà lại được người ta tôn trọng, thành ra cả nước hùa theo, cái thế lực thanh nghị lại càng lừng lẫy hơn xưa.

Năm thứ hai hiệu Kiến Ninh đời vua Linh đế (169), có kẻ chiều theo ý hoạn quan, dâng thơ vu cáo, nói bọn đó tính làm nguy đến xã tắc. Rồi đảng Lý Ưng bị bắt lại, vì giam cùm khảo kẹp khốc hại quá, hơn một trăm người chết mòn trong ngục. Bấy giờ dân gian ai có thù oán gì nhau thì vu hãm nhau dễ lắm, và lại các quan châu quận theo ý triều đình, làm khí già tay, nên tội lây vạ tràn nhiều lắm, kể hết thảy bị giết, bị đày, bị cấm, đến sáu bảy trăm người. Sau đó lại còn cấm cố đến môn sanh, cố lại, gia thuộc, thân thích của đảng nhân nữa.

Năm thứ nhứt hiệu Diên Bình đời vua Linh đế (127) bà Đận Thái hậu thăng hà, có người nào không biết, viết trên châu khuyết rằng:

“Nay thiên hạ cả loạn, Tào Tiết, Vương Phủ (hoạn quan) thì giết Thái hậu, Hầu Lãm (hoạn quan) thì giết nhiều đảng nhân, thế mà các quan ăn lương vua lộc nước, đều câm cả, chẳng nói được một lời”.

Vua bèn xuống chiếu cho quan Tư lệ hiệu huý là Lưu Mãnh nã bắt kẻ viết ấy. Lưu Mãnh nghĩ cho kẻ viết ấy nói thế là ngay thẳng, bèn không chịu nã vội, để hơn một tháng mà tìm chưa được chánh phạm. Lưu Mãnh liền bị giáng chức, Đoàn Cảnh được thế cho Lưu Mãnh, ra nã bắt khắp mọi nơi, bắt hơn ngàn sanh viên Thái học mà cầm vào ngục. Việc nầy lại là khác, không đồng một án với án đảng nhân nói trên kia.

Cái án đảng nhân đó rây rắc và dây dưa mãi đến hơn hai mươi năm, những người danh sĩ bị lâm lụy mà chết nhiều lắm, dân gian cũng rất là đồ khổ, nhà làm sử quen gọi là “đảng cố chi họa”.

Cho đến năm thứ nhứt hiệu Trung Bình đời vua Linh đế (184), giặc Hoàng Cân nổi lên, triều đình mới đại xá cho đảng nhân; và sau đó ba mươi bảy năm thì nhà Hán mất nước.

(Nhẫn lên xem sách Hậu Hán thư quyển 97, tờ 1-2-3; và quyển 108, tờ 7)

 

*

 

Vận động về quốc sự một cách kịch liệt nhứt, là học trò ở đời nhà Tống.

Năm thứ bảy hiệu Tuyên Hòa đời vua Huy tôn (1125), bấy giờ thế nhà Tống đã nguy lắm. Rợ Kim ở phía bắc lấn vào gần tới kinh đô, còn trong triều, Thái Kinh ở ngôi thủ tướng bấy lâu làm nhiều việc hại dân hại nước, mà chẳng hề có ai dám nói. Sanh viên Thái học là Trần Đông bèn xuất hết thảy bọn đồng học trong trường dâng thơ cho vua, kể tội sáu tên gian thần, tức là Thái Kinh và năm người nữa, mà xin chém đi, loan thủ cấp đi khắp trong nước để tạ lòng thiên hạ.

Thái Kinh tuy không vì cớ khống cáo đó mà bị tội, song đã bị bãi chức và Lý Cương lên thay. Lý Cương là người chủ chiến, nghịch cùng bọn Lý Bang Ngạn là phái chủ hòa, lên làm tướng thì cố việc trị binh đánh với Kim, làm cho người Kim nghi kỵ, sai sứ sang trách vấn triều đình Tống. Tống sợ, phải bãi chức Lý Cương để được lòng người Kim. Bấy giờ là năm thứ nhứt hiệu Tịnh Khương đời vua Cao tôn (1126).

Lần nầy Trần Đông lại đứng đầu các sanh viên Thái học, rủ nhau hơn một ngàn người vào tại cửa Tuyên Đức mà dâng thơ cho vua, kể tội bọn Lý Bang Ngạn và xin lưu Lý Cương lại làm tướng. Trong lúc dâng thơ tại nơi cửa đó, quân dân không hẹn nhau mà nhóm lại đến vài vạn người. Khi đó vừa ưa Lý Bang Ngạn vào chầu, chúng sỉ mắng cho một hồi, còn muốn đánh nữa, nhờ Lý ruổi mau mới thoát được. Có lịnh truyền phải lùi ra, song chúng không chịu đi, đánh lủng trống đăng văn và kêu la vang lên. Quan điện suý là Vương Tôn Sở thấy vậy, sợ sanh biến, khuyên vua làm theo như lời xin. Vua bèn sai ra truyền cho chúng rằng đã có chỉ vời Lý Cương lại rồi. Quan nội thị là Châu Cung Chi vâng mạng đi vời Lý Cương mà đi trễ, chúng xúm nhau đánh chết, lại còn đánh chết vài mươi nội thị khác nữa. Vua phải cho Thượng thơ Hộ bộ là Nhiếp Xương ra truyền dụ chỉ, chúng mới chịu tan.

Lý Cương quả lại được làm tướng như cũ. Song le, ngày hôm sau, vua xuống chiếu bắt làm tội những kẻ nào vi thủ trong việc đánh chết các nội thị, và cấm không ai được đến cửa khuyết dâng thơ. Có người xin hạ ngục hết thảy sanh viên Thái học, nhưng rồi không, muốn cho êm việc, vua chỉ dùng Dương Thời là nhà đại nho lên làm chức Tế tửu (ông đốc trường Thái học) để trấn tịnh đám học trò mà thôi. Có người lại tâu xin cho Trần Đông làm quan để bưng mồm va lại, song Đông nhứt định từ chối không chịu.

Việc nầy chẳng khác gì một cuộc “mê-tin”(*) đời nay, mà là một cuộc mê-tin ghê gớm, có đến đổ máu nữa.

Qua năm thứ nhứt hiệu Kiến Viêm đời vua Cao tôn (1127), nhà Tống vì sợ giặc Kim, đã dời kinh đô qua phía nam Dương Tử giang rồi. Bấy giờ tại triều lại có Hoàng Tiềm Thiện và Uông Bá Ngạn, cũng là phái chủ hòa nghịch với Lý Cương, mà vua lại tin dùng hai người nầy và bãi chức Lý Cương lần nữa. Trần Đông bèn dâng thơ xin cầm Lý Cương lại và bãi Uông, Hoàng đi. Lại xin trị tội các tướng không tiến binh, xin vua đừng ngự đi Kim Lăng để cho khỏi day động lòng người. Hoàng Tiềm Thiện kiếm lời khêu chọc vua, nói rằng phải giết Trần Đông đi, nếu không thì nó lại cổ động sĩ dân làm như năm trước. Vua cho phép. Quan phủ doãn là Mạnh Dũ cho đòi Trần Đông, Đông xin ăn xong sẽ đi. Ăn xong lại đi đằng sau, kẻ sai nha có ý ngại, Đông nói rằng: “Ta là Trần Đông đây, sợ chết thôi thì đã chẳng dám nói; mà đã nói, đâu thèm tránh cái chết?” Rồi Đông trở vào, đội mũ mặc áo, đi chào bạn đồng học, và bị dẫn ra chém giữa chợ. Đông vốn không quen với Lý Cương, chỉ vì việc nước xin lưu Lý lại mà phải chết, ai nấy nghe thấy đều sa nước mắt.

Đến đời vua Lý Tôn, năm thứ tư hiệu Thuần Hựu (1244), lại có việc bọn Hoàng Khởi Bá kiện Sử Tung Chi. Sử là một tay gian thần, bấy giờ đương làm tướng, gặp tang cha, theo lệ phải về đình gián, song được vua cầm ở lại. Hoàng Khởi Bá đứng đầu một trăm bốn mươi sanh viên Thái học, dâng thơ nói Tung Chi gian nịnh, liên kết với hết thảy triều thần và đám hoạn quan đặng bám chặt lấy ngôi thừa tướng, vậy xin vua phải đuổi ngay về. Lại có các sanh viên trường Võ học là Ông Nhựt Thiện, trường Kinh học là Lưu Thời Cử, trường Tôn học là Triệu Dữ Hoàn rủ hết thảy học trò ba trường ấy  đứng ra làm thanh viện cho trường Thái học mà dâng thơ can vua về sự cầm Sử Tung Chi. Song vua không nghe. Lưu Nại, sanh viên trường Võ, biết ý vua muốn dùng Tung Chi, bèn phản lại bốn trường, dâng thơ nói học trò xách tên một vị đại thần ra mà mắng nhiếc như thế là vô lễ, không còn gì là thể thống triều đình. Tuy vậy, bên học trò lại càng hăng, họ nhứt định rủ nhau “bãi khóa” để đối phó lại việc ấy. Bấy giờ tại nơi nhà cầu trường Thái học có giấy dán rằng:

“Hễ thừa tướng vào buổi mai thì sanh viên ra buổi chiều, thừa tướng vào buổi chiều, thì sanh viên ra buổi mai”.

Kế đó, quan phủ doãn là Triệu Dữ Trù định hạ lịnh đuổi học trò. Các sanh viên nghe thế, bèn làm một bài văn, gọi là Quyện đường văn mà đưa cho nhau như kiểu “truyền đơn” đời nay, một đoạn cuối bài ấy nói rằng:

“Họ đã vị lợi riêng mình mà đuổi học trò, thì học trò không mặt mũi nào còn ở nữa.

Nếu tham sự no ấm mà ở lại thì rồi sẽ bị chôn như học trò đời nhà Tần.

Hễ bài văn nầy ra, nội trong ngày mai phải đi lập tức”.

ấy là họ thực hành được cái kế hoạch bãi khóa. Mà cuộc bãi khóa nầy được thắng lợi, vì Sử Tung Chi thấy công luận không dung mình, cũng sợ, bèn xin về chung chế.(**)

Qua năm sau (1245), hai ông quan tại triều đình là Từ Nguyên Kiệt và Lưu Hán Bật bị bọn gian thần đầu độc mà chết, sanh viên Thái học là Thái Đức Nhuận với một trăm bảy mươi ba người nữa dâng thơ kiện oan. Vua bèn xuống chiếu cấp ruộng và tiền cho hai vị đại thần chết oan ấy.

“Phải chi triều đình bấy giờ lấy sự phải trái của họ làm phải trái, thì những kẻ gian tà đạo tặc đã khiếp sợ dưới cái uy chánh khí, rồi vua cũng an mà nước cũng có thể giữ được. ấy vậy mà luận giả lại cứ cho những việc ấy là “việc đời loạn”. Luận giả không đổ(***) cái tội làm mất nước cho những người bắt giết học trò, huỷ phá học hiệu, trở lại trách móc học trò, là nghĩa gì?

Theo lời Hoàng Lê Châu đó, thì sự học trò can thiệp việc nước không những là sự bất đắc dĩ và sự tự nhiên, mà lại là lẽ đương nhiên. Ông chẳng thèm nói xa nói gần gì hết, cứ nói thiệt tình rằng nhà nước phải lấy học hiệu làm cơ quan chánh trị, nói mồn một rằng các việc mà người ta cho là “việc đời loạn” đó, là gần với phong tục Tam đại!

Về việc học trò đời xưa với quốc sự, lịch sử chép như vậy, các người hiền triết chủ trương như vậy, thế mà người Tàu ngày nay chừng như không có mấy người xét đến và hiểu đến.

Năm mười năm nay, bên Tàu có xảy ra luôn luôn những sự học sanh vận động về chánh trị, nổi tiếng hơn hết là cuộc “Ngũ tứ vận động” và “Lục tam vận động”. Bấy giờ có nhiều vị chủ bút nhà báo, nhứt là mấy vị lão thành, hay phàn nàn về sự đó. Cái chỗ họ căn cứ mà lập luận là: học trò đương buổi thanh niên phải lo học cho thành tài để ngày sau giúp nước, chứ không nên giấn thân vào quốc sự trong khi còn ở nhà trường, vì sợ thiệt đến mình tức là hại cho nước chăng. Lại có vị hình  như chẳng đọc chữ sử nào hết, đến nỗi nói rằng các cuộc học sanh vận động đó là nhiễm lấy cái thói học sanh bên Âu Mỹ, rồi lại than thở cho cái văn minh Âu Mỹ đời nay đến mà phá đổ phong tục tốt của người Tàu đời xưa! Trong khi tôi đọc qua những bài luận ấy biểu tôi đừng hé răng mà cười sao được! biểu tôi đừng bĩu môi mà trề sao được!

Tôi viết bài khảo cứu nầy cũng khá gọi là kỹ, song có một điều còn chưa được mãn nguyện — chưa mãn nguyện cho tôi và cũng cho độc giả — là tôi không nhắc đến được ít nhiều tài liệu cùng một thứ trong lịch sử nước ta. Theo tôi nhớ, sử nước ta không thấy có chuyện nào giống như vậy. Cái đó có lẽ là tại các nhà làm sử bỏ sót. Cứ như tôi biết, trong một tỉnh Quảng Nam chúng tôi, sáu bảy mươi năm trở lại đây, cũng có vài việc gọi được là một cuộc vận động nho nhỏ về quốc sự của đám học trò, thì lẽ nào cả nước ta, chốc ngàn năm nay, ít ra lại không có năm bảy việc như vậy ư? Tôi kể mấy việc ấy ra đây để thúc kết bài khảo cứu nầy.

Về đời Tự Đức, không biết năm nào, ông Đặng Kham, người Bắc Ninh làm án sát Quảng Nam. Ông nầy tham ô có tiếng. Có một lần, tại tỉnh hạch học trò, đêm trước ngày hạch, hàng mấy ngàn học trò ở ngoài thành ồn lắm, đâu đâu cũng xấm xi xấm xải, thì quan tuần sức cho sở tuần thành phải coi chừng cẩn thận. Sáng ra, họ vẫn vào hạch như thường, song ở bốn cửa thành có nhiều tờ giấy chữ của ai dán không biết, lính gỡ đem vào trình quan tuần, thì ra những giấy ấy chép rập một bài văn tứ lục kể tội quan án, như vầy:

 

Mèo đen cấu khí

Rùa mốc xì thơm

Họ là Đặng mà người coi chẳng đặng

Tên là Kham mà dân chịu không kham

Đốc học Thưởng làm nanh làm vút,

Tri phủ Đôn làm cánh làm vây.

Bạc Cẩm Sa (làng) mười lạng rành rành, không ăn vì sợ nghè Tường…

 

Người thuật lại chỉ nhớ bài ấy được có bấy nhiêu.

[...] quan tuần phải niêm những tờ giấy ấy và thảo sớ mà đệ về bộ nhờ  bộ dâng lên. Bấy giờ  vua Dực Tôn sai Khâm phái về tra, quả nhiên giấy ấy nói thật cả, quan án Đặng Kham liền bị cách chức và lạc hồi dân tịch.

Tháng chạp năm Kiến Phước nguyên niên (1884), ở phủ Điện Bàn hạch học trò (hạch nầy để kén học trò lên hạch tại tỉnh lần nữa rồi ai có dự hạng mới được đi thi, vì năm sau đến khoa thi). Trong đêm mà sáng ra đến ngày hạch, học trò tựu tại phủ có đến mấy ngàn. Bỗng dưng có người cổ động lên, dán giấy rải tờ, đại ý nói nước nhà sắp đến ngày nguy vong tới, sĩ phu phải lo liệu làm sao, không còn nên thi cử làm chi nữa, cũng không nên hạch nữa. Mà quả thế, sáng ra, khi xướng tên vào trường, không có một trò nào chịu dạ cả, rồi học trò lần lần tan về, cuộc hạch ấy phải bãi đi. Dầu mấy hôm sau có tục hạch, và học trò phủ Điện khoa năm ấy cũng đi thi, song giữa những ngày sắp thi, nghĩa là vào hạ tuần tháng năm năm ất dậu, Hàm Nghi nguyên niên (1885), học trò các tỉnh đã tụ tại Huế, thì kinh thành bị thất thủ.

Sự học trò bãi khóa dường như ở xứ ta ngày xưa cũng đã có. Điều đó lấy chứng cớ trong một câu hát mà đàn bà trẻ con thường hát. Ngẫm nghĩ câu hát đây thì ra như đám học trò nào đó bị ngược đãi, không chịu được sỉ nhục mà phải rủ nhau bỏ trường không học nữa, cho nên nói rằng:

Thôi thôi cắp sách ra về,

Học hành chi nữa chúng chê bạn cười !”

C. D.

                                                                                                                Đông Pháp thời báo, Sài Gòn,

s. 685 (21.2.1928); s. 686 (23.2.1928);

s. 687 (25.2.1928); s. 689 (1.3.1928).

—————

* mê-tin: có lẽ tác giả phiên âm từ meeting; * về chung chế: về chịu tang cho đến mãn tang. *** bản gốc là không đo, NST sửa lại là không đổ.

Giải mã ‘âm thanh lạ’ ở Hà Nội cách đây 90 năm – ĐVO

20 Tháng 5

(ĐVO) Những âm thanh đó không chỉ chứa đựng giai điệu ngọt ngào, trong nó còn có cả hương thơm, mùi vị, màu sắc, có tính kích thích tất cả các giác quan của chúng ta.

>>  Cận cảnh người Hà Nội ‘ghiền’ ăn vặt trên báo nước ngoài >> Hãi hùng bánh mỳ ‘chửi tóe lửa’ ở Giáp Bát
Tiếng rao của những người bán hàng rong khiến cho phố phường tại các đô thị của Việt Nam trở nên rất sinh động. Điều này khiến cho những người nước ngoài cảm thấy thú vị. Tuy vậy, rào cản ngôn ngữ thường khiến cho họ không hiểu gì cả.
Để “giải mã” những âm thanh đặc biệt kể trên, vào năm 1929, tác giả Pháp F. Fénis đã xuất bản một cuốn sách mỏng có tiêu đề “Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội” (Les marchands ambulants et les cris de la rue à Hanoi). Cuốn sách gồm 40 trang đã mô tả khá đầy đủ về các loại hình hàng rong và tiếng rao tương ứng ở Hà Nội thông qua hình ảnh và khuông nhạc minh hoạ.
Những hình vẽ minh hoạ trong ấn bản này do các học viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, trong đó có Tô Ngọc Vân – người sau này trở thành hoạ sĩ nổi tiếng của Việt Nam – thực hiện.
Dưới đây là một số trang trong bản scan của một cuốn “Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội” đang được lưu giữ tại một thư viện của Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Paris.

“Ai dâu chín của nhà ra mua”.
“Bánh giò bánh dày”.
“Se cấu se cấu” (kem vani).
“Ai bánh chưng bánh cốm ra mua”.
“Chum chậu bát sứ vỡ hàn không”.
“Ai giẻ rách sắt vụn bán không nào”.
“Ai bánh Tây ra mua”.
“Nước vối nóng ăn thuốc không”.
“Ai mua ngô rang hạt dẻ ra mua”.
“Ai mua bánh vừng không”.
Chè hạt sen.
“Ai mía ra mua”.
“Ai có chai cốc vỡ bán không”.
“Ai kẹo vừng kẹo lạc kẹo bột trạm ô mai ra mua”.
“Ai lạc rang ra mua”.
“Ai nem sốt mua”. “Ai nem mua đi”.
“Trung Bắc, Thực Nghiệp, Khai Hoá” (tên của 3 tờ báo thời thuộc địa).
“Ai cháo đậu xanh chè đậu đen ra mua”.

Lầu Năm Góc công bố tiềm lực quân sự Trung Quốc

20 Tháng 5
Trung Quốc đang tìm kiếm công nghệ quân sự theo cách hợp pháp lẫn bất hợp pháp.

Ngày 18-5 (giờ địa phương), Bộ Quốc phòng Mỹ đã trình Quốc hội báo cáo thường niên về tiềm lực quân sự Trung Quốc. Báo cáo liệt kê như sau:

- Bộ binh: Gồm 1,25 triệu quân với 400.000 quân triển khai đối diện Đài Loan, 7.000 xe tăng, 8.000 khẩu pháo, một máy bay trực thăng mới Z-10 sản xuất trong nước.

- Không quân: Gồm 1.570 máy bay tiêm kích, 550 máy bay ném bom và máy bay cường kích (trong đó có 490 chiếc có thể bay đến Đài Loan mà không cần tiếp nhiên liệu trên không), 300 máy bay vận tải, hơn 100 máy bay trinh sát và thám sát trên không. Lực lượng phòng không được xem là mạnh trên thế giới chủ yếu nhờ tên lửa phòng không Nga S-300. Trung Quốc đang tiếp tục sản xuất máy bay tiêm kích tàng hình đầu tiên J-20.

- Tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo: Gồm 50-75 tên lửa hạt nhân liên lục địa (ICBM) đạt tầm bắn trên 5.500 km, 75-100 tên lửa đạt tầm bắn đến 3.000 km và 5-20 tên lửa đạt tầm bắn trung bình 3.000-5.500 km. Một số lượng lớn tên lửa do Trung Quốc tự sản xuất.

Trung Quốc đã triển khai 1.000-1.200 tên lửa tầm thấp dưới 1.000 km và 200-500 tên lửa đất đối đất đạt tầm bắn trên 1.500 km đối diện Đài Loan, đồng thời đã thiết lập một tên lửa tầm xa chống hạm mới nhằm chống tàu ngầm Mỹ.

Tàu ngầm hạt nhân phóng tên lửa lớp Jin của Trung Quốc. Ảnh: CHINESE MILITARY REVIEW

- Hải quân: Gồm hai tàu ngầm hạt nhân phóng tên lửa lớp Jin, năm tàu ngầm hạt nhân tấn công, 48 tàu ngầm diesel. Tàu sân bay đầu tiên có thể hoạt động trong năm nay dùng để huấn luyện. Ngoài ra còn có 26 tàu khu trục chống ngư lôi, 53 tàu hộ tống, 51 tàu vận tải thủy lục, 86 tàu tuần tra phóng tên lửa. Số mìn dưới nước đã vượt trên 50.000 quả.

Theo báo Wasshington Post (Mỹ), báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ nêu một số nhận xét:

- Trung Quốc đang tận dụng các công nghệ liên quan đến quốc phòng trong lĩnh vực tư nhân để tăng cường sức mạnh quân sự tại châu Á-Thái Bình Dương. Hầu hết công nghệ nêu trên là của Mỹ.

- Trung Quốc đang nhắm mục tiêu tận dụng và sở hữu công nghệ quân sự theo cách hợp pháp lẫn bất hợp pháp. Hoạt động trao đổi của Trung Quốc với các tập đoàn hàng không phương Tây nhằm làm lợi cho ngành công nghiệp hàng không quân sự Trung Quốc.

- Trung Quốc đang thực hiện hoạt động gián điệp không gian mạng nhằm thu thập thông tin tình báo chiến lược của chính phủ và các công ty tư nhân Mỹ, đặc biệt là thông tin về an ninh không gian mạng.

- Tình hình đầu tư liên tục vào quốc phòng của Trung Quốc bộc lộ mục tiêu nhằm ngăn chặn kẻ thù tiếp cận các khu vực chiến lược như biển Đông. Trọng tâm nhằm ngăn chặn Mỹ can thiệp vào bán đảo Đài Loan.

- Trung Quốc đang theo đuổi các mục tiêu vượt xa hoạt động bảo vệ lãnh thổ bao gồm viện trợ nhân đạo, chống cướp biển ở vịnh Aden và chống khủng bố.

Từ năm 2000, hằng năm Bộ Quốc phòng Mỹ đều trình lên Quốc hội báo cáo về đầu tư quân sự của Trung Quốc.

Từ ngày 29-6 đến 3-8, cuộc tập trận hải quân lớn nhất thế giới Vòng tròn Thái Bình Dương 2012 (RIMPAC 2012) sẽ diễn ra tại Hawaii (Mỹ). Mục đích nhằm phối hợp duy trì hòa bình và ổn định ở Thái Bình Dương. Theo CBC News (Canada) ngày 17-5, quy mô tập trận lớn hơn nhiều so với tập trận lần trước. 22 nước tham gia với 42 tàu chiến, sáu tàu ngầm, hơn 200 máy bay, 25.000 binh sĩ. Điều này chứng tỏ các nước tham gia ngày càng quan tâm đến Thái Bình Dương. RIMPAC 2012 ra đời từ năm 1971, được tổ chức hai năm một lần với mục đích ban đầu là đối phó với nguy cơ thù địch từ Trung Quốc.

ĐĂNG KHOA

DUY KHANG – H.DUY

KHẨN TRƯƠNG ĐIỀU TRA, LÀM RÕ VỤ VIỆC TẠI VIỆN HÁN NÔM – QĐND

20 Tháng 5

- Một độc giả gửi tới bản ảnh chụp màn hình bài viết trên trang web của báo Quân đội nhân dân. Hơn 2 tiếng đồng hồ sau khi đăng bài, hồi 23h50′ ngày 19/5/2012, tìm bài gốc trên báo thì không còn nữa, chỉ còn qua đường dẫn lưu trên mạng.

- Một độc giả khác cho biết, trên báo Cựu chiến binh, một bài viết liên quan: Ủng hộ chính sách của Nhà nước, một thương binh nặng bị hành hung.

 

——–

Báo Cựu chiến binh

Ủng hộ chính sách của Nhà nước, một thương binh nặng bị hành hung

19/05/2012

Ủng hộ chính sách xây dựng nhà máy điện hạt nhân của chính phủ, thương binh nặng Chu Vinh Quang bị hành hung ngay tại trụ sở cơ quan nhà nước

Thời gian vừa qua trên trang blog cá nhân của ông Nguyễn Xuân Diện, Phó trưởng phòng quản lý thư viện Viện Hán nôm đã đăng tải những bài viết kêu gọi người dân và các Việt kiều ký tên vào thư phản đối chính phủ Nhật Bản viện trợ xây nhà máy điện nguyên tử cho Việt Nam và dự định ngày 21-5-2012 sẽ chính thức gửi bức thư này đến Thủ tướng Nhật Bản, Bộ Ngoại giao Nhật Bản và Tòa Đái sứ Nhật Bản tại Hà Nội cũng như một số cơ quan công tư tại Nhật Bản.

Khi biết được vấn đề này, ngày 18-5-2012 một số thương binh nặng của TP Hà Nội gồm có ông Hoàng Đức Đồng, Nguyễn Sĩ Duyên, Nguyễn Tất Hùng, Chu Vinh Quang, Nguyễn Vinh Công và Quản Văn Khang đã cùng đến Viện Hán Nôm để yêu cầu ông Diện ngừng ngay những hoạt động đó lại.

Ông Quản Văn Khang bức xúc: “Chúng tôi là những thương binh, những người đã đổ máu và nước mắt, đã bỏ lại một phần cơ thể của mình lại chiến trường để bảo vệ Tổ quốc, mong muốn đem lại hòa bình cho đất nước, cho nhân dân. Nay dân mình còn nghèo, một số nơi đồng bào còn không có điện để dùng vậy mà khi chính phủ Nhật đồng ý viện trợ cho Việt Nam xây dựng nhà máy điện hạt nhân phục vụ cho nhân dân thì lại có những người chống phá”.

Do đó các thương binh này đã đến Viện Hán nôm để gặp và thuyết phục ông Diện vì lợi ích của nhân dân mà ngừng những hành động đó lại. Tuy nhiên khi mọi người đang nói chuyện trong phòng ông Diện thì thấy nhiều người tụ tập ngoài cửa phòng, rất ồn ào. Lúc đó ông Chu Vinh Quang đi ra ngoài xem có chuyện gì thì bị một số người phía bên ngoài hành hung.

“Tôi vừa đi ra ngoài thì có 2 người đàn ông giữ 2 tay tôi lại để một cô gái tát và đánh vào đầu tôi”, ông Quang nói. Vốn là một thương binh nặng, đã từng bị chấn thương sọ não nên sau khi bị hành hung ông Quang đã bị choáng và ngã lăn ra đất. Lúc này mọi người ở trong phòng mới chạy ra và ngăn không cho nhóm đối tượng kia tiếp tục hành hung ông Quang.

Gặp cơ quan chức năng, Báo CCB được ông Khổng Nguyên Thủy, Phó trưởng công an phường Trung Liệt cho biết ngay sau khi vụ việc xảy ra, công an phường đã có mặt để giải quyết vụ việc và có viết giấy giới thiệu khám thương để ông Quang đi khám sau khi bị đánh. Theo điều tra ban đầu của công an thì trong khi các thương binh đang làm việc với ông Diện trong phòng thì đã có một số người tụ tập ở cửa phòng. Người trực tiếp hành hung ông Quang là chị Thư, một cán bộ của Viện. Tuy nhiên ngay sau đó thì chị Thư đã bỏ trốn nên cơ quan công an vẫn chưa thể lấy lời khai của chị Thư.

Cũng theo nguồn tin riêng của Báo CCB thì trong buổi làm việc sau đó với cơ quan chức năng và các thương binh thì ông Nguyễn Xuân Diện đã đồng ý gỡ những bài viết có nội dung phản đối chính phủ Nhật viện trợ cho Việt Nam xây dựng nhà máy điện hạt nhân xuống khỏi blog cá nhân của mình.

Công an thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Công an quận Đống Đa và Công an phường Trung Liệt khẩn trương vào cuộc điều tra, làm rõ vụ việc trên, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì khởi tố để xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Báo CCB để nghị các cơ quan chức năng xem xét và làm rõ vấn đề này, trả lại sự công bằng cho những thương binh, những người đã cống hiến xương máu bảo vệ đất nước và nay lại tiếp tục nỗ lực bảo vệ hạnh phúc và lợi ích của nhân dân.

Hoàng Linh

——–

Tham khảo:

* Hồi 1h sáng ngày 20/5/2012:  Phát hiện trang web của Viện Hán Nôm không truy cập được, chỉ còn đường dẫn được lưu trên mạng.

* Các bài viết liên quan trên báo nước ngoài và mạng tự do (vẫn đang được cập nhật tiếp):  – Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện bị “áp đáo” tại cơ quan (Nguyễn Tường Thụy).  – Một chủ blog nổi tiếng, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện bị kẻ lạ công khai hăm dọa (RFI).  – TS Nguyễn Xuân Diện bị khủng bố, đe dọa, ép dẹp blog (NV).  – TƯỜNG TRÌNH VỤ VIỆC SÁNG NAY —  (Nguyễn Xuân Diện).   – Khốn nạn (Cu Làng Cát).  – Tặng TS Nguyễn Xuân Diện, PGĐ Thư viện Hán Nôm: NGUYỄN TRỌNG TẠO: CÁC ANH CHƯA MẤT TRÍ? (Nguyễn Trọng Tạo).  – NỘI CHIẾN? (Thùy Linh).   – Điểm tin cuối ngày (Nguyễn Thông).  – Đất nước hưng rồi  —  (Người buôn gió).  – Nhà văn Nguyễn Quang Lập:  Sự khốn cùng của phương pháp  —  (Quê choa).  – Thương binh lo vấn đề năng lượng ! (Lê Dũng).  – Hết vở? (J.B. Nguyễn Hữu Vinh).  – 1008. LS Hà Huy Sơn: THƯ GỬI LÃNH ĐẠO THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Ba Sàm). – Xung quanh vụ “thương binh” trấn áp Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (BoxitVN).  – Một bản tin khác nhận từ Viện Hán Nôm (Phair Zios). – TS Nguyễn Thanh Giang:  CHIA SẺ CÙNG TS NGUYỄN XUÂN DIỆN (Ba Sàm).  – Phỏng vấn TS Nguyễn Xuân Diện: Luôn ‘sẵn sàng’ cho điều xấu nhất(BBC).  -  TS Nguyễn Xuân Diện bị bao vây ở Thư viện Hán-Nôm Hà Nội (RFA).  – NÓ CHỨ CÒN AI NỮA (Nguyễn Tường Thụy).  – - Vụ “thương binh” dọa tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện gây phẫn nộ dư luận (RFI). – CÁC CƠ QUAN ĐẢNG, NHÀ NƯỚC CẦN TRẢ LỜI NGHIÊM TÚC TRƯỚC VỤ TẤN CÔNG CỦA ĐÁM “THƯƠNG BINH NẶNG” VÀO VIỆN HÁN NÔM (Mai Xuân Dũng).  – Lạ! Rồi thấy buồn cười! Rồi thấy buồn, đau! (Phương Bích).  – Tận cùng của sự bỉ ổi, hèn hạ và đê tiện (J.B Nguyễn Hữu Vinh).  – NÓ CHỨ CÒN AI NỮA (Nguyễn Tường Thụy).  – Viện Hán -Nôm và Ts Nguyễn Xuân Diện bị khủng bố (Trần Nhương). – Thứ sáu (Đông A).

Mấy suy nghĩ về sáng tác kịch bản Tuồng của Hoàng Châu Ký – VHNA

20 Tháng 5

Nguyễn Khoa Linh

Nói đến GS. Hoàng Châu Ký là nói đến một nhà hoạt động Tuồng tài hoa trên nhiều lĩnh vực: Nghiên cứu, đạo diễn, sáng tác, quản lý, giảng dạy. Ở bài viết này, tôi xin chỉ nêu một số suy nghĩ về kịch bản Tuồng do ông sáng tác.

Hoàng Châu Ký bước vào lĩnh vực sáng tác Tuồng đúng như nhận xét của GS. Trần Bảng: “Không phải chúng tôi tham (chúng tôi ở đây chỉ GS. Trần Bảng và GS. Hoàng Châu Ký – NKL), trước hết làm lý luận không chỉ để viết sách mà cần vận dụng vào sáng tác, biểu diễn. Đây hầu như là yêu cầu của giai đoạn”.

Về số lượng vở sáng tác mới, so với tác giả Tống Phước Phổ với gần tới con số 100, thì Hoàng Châu Ký rất khiêm tốn. Ở giai đoạn đầu, khoảng năm 1952 đến năm 1975 có thể kể: Đường về Vụ Quang, Lại sáng màu cờ (Tuồng ngắn, khi công diễn đổi thành Quay súng trở về), Úm ba la (Tuồng hài, viết chung với Song Bân), Cao Doãn.

Là vở viết ngắn gọn dễ biểu diễn trong điều kiện kháng chiến, nhưng vở Đường về Vụ Quang lại có tính chất mở đầu của sáng tác về giai đoạn cận hiện đại, rất gần gũi với con người đương thời. Tính chất của nó khác hẳn với những nhân vật biểu trưng, mũ cao, áo dài của Tuồng cổ. Điều này thể hiện rất rõ ở lời tự nhận xét của tác giả in trong tập “35 năm sân khấu ca kịch cách mạng” (NXB Văn hóa, 1976, trang 62): “Tuy viết về cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, nhưng cốt truyện hoàn toàn hư cấu, không có một nhân vật thật nào của lịch sử. Đây là một vở Tuồng lịch sử có nội dung chống Pháp đầu tiên của Đoàn. Vở Tuồng có tư tưởng chiến đấu nhưng mang dáng dấp truyền kỳ về cốt truyện. Nói chung còn sơ lược”.

Có thể nói, các vở sáng tác của Hoàng Châu Ký ở mảng đề tài hiện đại không thành công lắm.

Giai đoạn thứ hai trong sáng tác của Hoàng Châu Ký là từ năm 1976, tức sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất trở về sau. Có thể nói đây là giai đoạn sáng tác đáng được chú ý hơn cả.

Ngoại trừ các vở chuyển thể như Lơxit, Thị Kính Thị Mầu, Hoàng Châu Ký đã đi sâu vào lịch sử dân tộc để sáng tác. Như thời Tây Sơn có Quang Trung – Nguyễn Huệ ; thời cận hiện đại có Thanh gươm chủ chiến (viết chung cùng Tống Phước Phổ, Nguyễn Văn Bằng, Nguyễn Xuân), Vua Duy Tân, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Cao Vân. Là người viết vở và cũng là đạo diễn, ông đã thường dựng các vở của mình viết cho các đoàn Tuồng. Đây là một điều hết sức thuận lợi vì lúc sáng tác, tác giả cũng đã hình thành việc cấu tứ, dàn dựng vở; khi dựng vở lại có điều kiện nâng kịch bản lên, làm cho vở diễn trở nên hoàn chỉnh hơn. Ở đây có sự thống nhất khá rõ giữa nhận thức và hoạt động sáng tạo. Và khi đi vào thế mạnh của Tuồng là đề tài lịch sử, Hoàng Châu Ký đã phát huy cao nhất khả năng sáng tác Tuồng và đã gặt hái thành công hơn cả.

Sự thành công ấy trước hết là ở sự vận dụng bút pháp truyền thống.

Bút pháp viết Tuồng của Hoàng Châu Ký, nếu có thể nói như vậy, là sự duy trì, bám chắc kiểu lối truyền thống, kết hợp với phát huy, sáng tạo.

Trong lúc không ít vở Tuồng, người viết đã đi lệch sang một hướng khác, đó là hiện đại hóa kịch bản theo kiểu lối kịch nói, làm cho bản sắc Tuồng bị nhòe nhợt, thì Hoàng Châu Ký vẫn trung thành với lối kết cấu tự sự Tuồng. Điều này trước hết là ở cách thức xây dựng nhân vật. Đó là những nhân vật có tính khái quát với những xung đột nội tâm dữ dội, những tình cảm lớn. Các nhân vật Ông Ích Khiêm (Thanh gươm chủ chiến), Nguyễn Duy Hiệu (vở cùng tên), Trần Cao Vân (vở cùng tên) là những nhân vật như vậy. Điều phát huy, sáng tạo ở Hoàng Châu Ký (điểm này không hẳn là nét riêng của Hoàng Châu Ký mà chúng ta còn thấy như sự không hẹn mà gặp ở một số tác giả đồng thời khác như Kính Dân, Tống Phước Phổ, Thùy Linh) là nhân vật chính không còn định hình như Tuồng truyền thống, và không chỉ hướng nội, mà cả hướng ngoại, đặc biệt là sự phát triển về mặt tính cách. Nếu ở Tuồng truyền thống nhân vật có phần nặng nề nghi thức phiền phức, giao đãi dài dòng, làm cho hành động kịch rề rà, thì ở Hoàng Châu Ký, ông đã bớt phần giao đãi, nhấn về hành động tâm lý gắn với các lớp lang chặt chẽ, làm cho hành động của toàn vở tập trung hơn.

Đặc biệt, ngôn ngữ nhân vật Hoàng Châu Ký đã góp phần tạo nên nét duyên dáng chung của các vở Tuồng. Có thể nói, các lời thơ dùng cho hát, được Hoàng Châu Ký viết khá trau chuốt. Mặt khác, ông sử dụng khá thuần thục thể văn biền ngẫu, một thể văn thường chiếm tới 80% ở các kịch bản Tuồng truyền thống. Xin dẫn ra đây một đoạn lời nhân vật Nguyễn Huệ nói với dân chúng.

“Xin đừng phủ phục

Mời hãy bình thân

(Ta ra đây là để dân Bắc Hà ngẩng đầu dậy, chớ không phải cúi đầu mãi như lâu nay. Ta là vua, nhưng là).

Vua tình, vua nghĩa, vua đức, vua nhân

(Ta khuyên)

Dân kiệm, dân cần, dân liêm, dân chính

Trên dưới chung tay hoạch định

Bắc Nam một nước phú cường

(Cứu nước khó, giữ nước, dựng nước cũng rất khó, nhưng nhất định làm được)

Nhắm tương lai, ngựa phải dong cương

(Đừng rụt rè, cứ làm theo nếp cũ)

Nhìn thiển cận, người không vững dạ”

(Vở Quang Trung – Nguyễn Huệ)

Đoạn văn vẫn viết theo lối biền ngẫu trên có đủ loại dài, ngắn. Loại ngắn nhất là câu 4 chữ, loại dài là câu 8 chữ. Đó là kiểu tư duy có vần, có tiết tấu, có nhạc điệu của kiểu lối ngôn ngữ Tuồng truyền thống. Nhưng nó cũng có khác, khác ở chỗ ngôn từ dung dị và sôi động hơn, gần với khẩu ngữ, “văn xuôi” hơn, để thể hiện đa diện nội dung kịch bản và cũng là để tiếp cận gần hơn thị hiếu khán giả đương đại.

Nói đến Hoàng Châu Ký với tư cách là tác giả, không thể không nhắc tới một khoảng sáng khác, ông rất có duyên, có tài trong việc chỉnh lý, cải biên một số vở Tuồng truyền thống như Nghêu Sò Ốc Hến, Sơn Hậu, Võ Hùng Vương. Thành công nhất của ông trong việc chỉnh lý, cải biên là đã cùng Tống Phước Phổ cải biên vở Tuồng Tam nữ đồ vương thành Ngọn lửa Hồng Sơn. Vở này được Đoàn Tuồng Liên khu V dựng năm 1963, cách đây gần 50 năm, vậy mà vào năm 2008, NSND Đàm Liên dựng lại cho Nhà hát Tuồng Việt Nam, có một nhận xét, mà theo tôi rất lý thú:

- “Kịch bản do hai ông, (hai ông ở đây là chỉ Hoàng Châu Ký và Tống Phước Phổ -NKL) viết đã quá hiện đại rồi. Lời thoại có bác học đấy nhưng cũng rất dân dã, rất dễ hiểu” (theo Hoàng Hồng thực hiện: NSND Đàm Liên, phải học cho chết và diễn cho sống. Báo An ninh thủ đô ngày 30-10-2008).

Gần đây, khi nghệ thuật Tuồng hát bội, có không ít dấu hiệu suy thoái: quá ít vở hay, khán giả, nhất là khán giả trẻ thờ ơ, lạnh nhạt với Tuồng; thì người ta càng lưu tâm tới sự hồi hướng, quay lại truyền thống. Tiêu biểu là ý kiến của GS. Trần Bảng: “Hãy trở về với Tuồng gốc” (tham luận Hội thảo khoa học “Giải pháp bảo tồn và phát huy nghệ thuật Tuồng” do Cục Nghệ thuật biểu diễn và Trung tâm Bảo tồn và Phát huy Văn hóa dân tộc tổ chức tại Hà Nội năm 2008). Với Hoàng Châu Ký thì ông đã có ý thức về điều này từ rất sớm, bằng chứng là ông luôn đề cao sự giữ gìn không mệt mỏi giá trị truyền thống Tuồng, kết cấu tự sự Tuồng ở không ít chuyên luận, bài viết của mình từ những năm cuối thế kỷ XX mà tiêu biểu là phần viết về văn học Tuồng đã in ở Tuyển tập Hoàng Châu Ký. Và ông đã viết vở như một minh chứng sống động. Ở đó không phải là sự nệ cổ một cách mù quáng và là sự tiếp thu, sự phát huy, sự sáng tạo với sự say mê nồng nhiệt. Trong sáng tác, ông đã làm được điều nhiều người mong đợi: Tuồng phải là Tuồng, chứ không phải kịch nói pha ca. Chỉ riêng điều đó thôi, cũng là một đóng góp đáng quý của ông cho ngành Tuồng, cho nền nghệ thuật dân tộc phong phú, đẹp đẽ của chúng ta./.

Người ả đào qua các tư liệu từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX (Kỳ 4) – VHNA

20 Tháng 5

Hoàng Thị Ngọc Thanh

1.3. Vị trí của nghệ thuật diễn xướng ca trù trong đời sống văn hoá nghệ thuật (đặt trong sự đối chiếu với sân khấu tuồng truyền thống).

1.3.1. Không gian nghệ thuật diễn xướng ca trù

Hát ca trù dù ở các không gian diễn xướng khác nhau: ở đình, đền (hát cửa đình, hát thờ), ở dinh thự (hát cửa quyền), hay ở ca quán thì thơ vẫn luôn là một thành tố không thể vắng mặt.

Các cuộc hát này đều sử dụng văn thơ, cho dù là một bài thơ chúc thọ vua, kính thần làng, cầu phúc hay một câu thơ đọc lên sau giờ làm việc ở chốn công đường và cả những bài thơ nói chí hay bày tỏ niềm riêng tư trong tửu quán. Các bài thơ ca trù bao giờ cũng do những trí thức sáng tác ra dựa theo các làn điệu có sẵn. Chính qua không gian sinh hoạt diễn xướng như vậy mà thơ ca rất phát triển và có tác động trực tiếp đến văn chương dân tộc.

Ca trù có mặt trong các không gian văn hoá khác nhau như đình, đền, dinh thự, ca quán, nhà quan viên hay nhà ả đào… với các mục đích khác nhau như thờ tụng, khánh tiết, chúc tụng, giải trí… chứng tỏ nó tham dự vào nhiều phương diện khác nhau của đời sống tinh thần con người trong xã hội trung đại. Theo tác giả Nguyễn Đức Mậu trong các công trình nghiên cứu người ta thường phân xuất ca trù thành các loại: hát cửa đình, hát chơi, hát thi và cách phân định này xuất phát từ các chức năng mà các cuộc diễn xướng hướng tới. Nhưng dường như vẫn chưa đáp ứng hết thảy các hình thức diễn xướng khác nhau nên cũng có sự phân loại thành hát thờ (bao gồm hát cửa đình tại các đền, miếu, hát ở nhà thờ tổ), hát chơi (hát tại các ca quán, dinh thự, tư gia). Trong các cách phân loại hát ca trù cũng có loại nằm ngoài các loại trên là hát khao, hát vọng, hát mừng thọ, mừng cưới tại tư gia các quan hay các nhà giàu. Khác với hát thờ, hát chơi hay hát thi, vì mục đích mà hát hát khao, hát vọng hướng tới là sự chúc tụng và làm tăng thêm tính long trọng, linh đình của cuộc lễ, nó không thuần tuý thưởng thức văn nghệ như kiểu hát chơi. Không gian của kiểu loại hát này là diễn ra trong phạm vi tư gia và đối tượng cũng được chọn lựa trong những khách được mời tham dự, nên về phương diện không gian là có tính chất thính phòng, không rộng rãi, mang tính lễ hội như hát thi ở làng, xã, không tự do hoàn toàn như hát chơi, không uy nghiêm linh thiêng như hát cửa đình, không trang trọng nghi lễ như hát trong cung. Tham gia vào các lễ khao vọng, ca trù mở rộng phạm vi hoạt động và tính chất của nó. Mối quan hệ giữa người biểu diễn (đào nương, kép, người cầm chầu) và đối tượng thưởng thức ở đây có ít nhiều nét khác, người quan trọng trong cuộc khao vọng là người mà cuộc hát hướng tới. Cá nhân được chúc tụng lúc này trở thành nhân vật số một trong đám công chúng, điều này trở thành nét khác, nét phân biệt giữa các kiểu loại hát ca trù.

Hát thi diễn ra ở các không gian diễn xướng khác nhau như hát thi ở làng xã hay thi ở tỉnh để chọn đào nương vào hát trong cung. Nhiều tài liệu cho biết hát thi cũng diễn ra tại cửa đình. Trong trường hợp này thì tính chất hát thờ không còn là yếu tố quan trọng. Có lẽ trong các lối hát và ngâm vịnh cổ truyền Việt Nam hiếm có một lối hát nào lại xâm nhập sâu rộng hầu hết các sinh hoạt văn hoá tinh thần như là lối hát ca trù. Ở nơi đình, miếu, đền đài thâm nghiêm các vị thần thánh nghe hát trong hương trầm đượm toả, trong sự sùng phụng của xã dân. Trước khi dâng lên thần thì các chức sắc địa phương cũng đã nghiêm trang thẩm định để chọn ra những đào hay kép giỏi, để họ dâng thần khúc hát tuyệt kỹ. Và trong dân gian, mỗi khi khao vọng, cho dù là khao thọ, khao thi đỗ, khao thăng chức, hay khai trương cửa hiệu, hoặc mừng đón nhau đều vời đến đào kép ca trù, tuỳ việc tuỳ duyên mà thưởng ngoạn câu thơ khổ phách cung đàn. Rồi những khi thư thả việc công, những khi buồn thế thái nhân tình, hoặc câu chuyện tình duyên gặp khi trắc trở, ai đó lại đến ca quán vịn vào tiếng hát, tiếng thơ, tiếng tơ, nhịp phách ca trù, để chia sẻ tâm sự, để hòa mình vào thế giới nội tâm sâu thẳm của những tri âm, để hào hứng dốc sạch túi tiền vào một cuộc hát mà thưởng cho một ngón nghề tài hoa.

Đình làng là nơi hội họp và là nơi tổ chức các cuộc vui của làng xã, ca trù được diễn xướng tại đây, phần nào đó được xem như là đang được diễn tại “nhà hát nhân dân” và tính chất hát thờ của khái niệm hát thờ chỉ có thể để phân biệt với hát ca trù tại các ca quán khi xuất hiện ca trù tại ca quán như một không gian biểu diễn độc lập và tách biệt. Hình thức hát ca quán là một dạng kinh doanh hoạt động vui chơi giải trí, thưởng thức nghệ thuật. Ca quán chỉ tập trung ở các đầu mối giao thông, các trục giao thông và ở nơi đó phải có một cuộc sống mang tính chất đô thị. Thể thơ thường thấy xuất hiện trong sinh hoạt ca trù ở các ca quán là thơ hát nói. Các bài hát nói thường đền cập đến cái tình riêng tư của các nho sĩ và đề cập đến mối quan hệ giữa các văn nhân và ca nữ. Thứ tình cảm đặc biệt này đã bắt đầu xuất hiện trong các sáng tác của Nguyễn Bá Xuyến, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… đặc biệt phải đến thơ văn của Nguyễn Khuyến, Tú Xương trở về sau ta mới thấy rõ mối quan hệ của các văn nhân với các cô đầu.

Nguyễn Khuyến có bài Cô Sen mơ bóng đè để bỡn cợt cô đầu tên Sen, người làng Thi Liệu, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.[8, 400] Trong số các tác phẩm hát nói của Dương Khuê (1836 -1898) được chép trong Việt Nam ca trù biên khảo, ta thấy có đến 9 trong tổng số 12 bài được tuyển nhắc đến mối quan hệ của ông với các cô đầu: Gặp Đào Hồng Đào Tuyết, Gặp cô đầu cũ, Tặng cô đầu Hai, Tặng cô đầu Phẩm, Tặng cô đầu Cúc, Vợ ghen với cô đầu Oanh, Tặng cô đầu Cần, Thăm cô đầu ốm, Ở nhà hát ngẫu hứng. Chính trong sinh hoạt ca quán này, các văn nhân đã có rất nhiều sáng tác viết về những mối tình riêng tư, mối quan hệ giữa quan viên và ả đào góp phần quan trọng trong việc làm dân chủ hoá đời sống văn học.

1.3.2. Vị trí của nghệ thuật diễn xướng ca trù trong đời sống văn hoá nghệ thuật

Nếu như tuồng được coi là sân khấu của mô hình nghệ thuật chính thống, thường xoay quanh đề tài “quân”, “quốc”, thì nghệ thuật diễn xướng ca trù lại là môi trường lý tưởng để thể hiện mảng đề tài phi chính thống, góp phần quan trọng trong việc làm dân chủ hoá đời sống văn hoá nghệ thuật. Đề tài các bài hát nói không nhằm tới việc thuyết giáo hay rao giảng những nội dung nghiêm túc của luân lý trong học thuyết Khổng Mạnh. Văn chương hát nói không nhằm mục đích chở đạo. Hát nói chỉ nhằm hướng đến một nhu cầu rất chính đáng của con người: nhu cầu giải trí. Một trong những đặc điểm lớn nhất trong các bài hát nói là ca ngợi tinh thần tự do tự tại và ca ngợi lạc thú, hưởng lạc.

Khẳng định tự do, con người trong hát nói thể hiện khát vọng vượt ra ngoài khuôn khổ của đời thường, hoà hợp và hoá thân vào vũ trụ. Chính tư tưởng ấy đã khiến cho nhà nghệ sĩ thoả thích tận hưởng. Thời gian trở thành vô hạn, không gian mở ra vô cùng:

“Khoảng trời đất cổ kim kim cổ

Mảnh hình hài không có, có không”

(Chén rượu tiêu sầu – Cao Bá Quát).

Sinh hoạt hát nói là một thú chơi, sáng tác hát nói cũng đề cập đến rất nhiều thú chơi ở đời: nào “thú ăn chơi”, “thú rượu thơ”, nào “thú nguyệt hoa”, để mà “cho trải mùi đời”. Không gian hát ả đào là nơi lý tưởng để diễn tả những tư tưởng tình cảm chân thực, phóng túng, không bị gò vào công thức của các chuẩn mực. Dường như không gian hát ả đào là một không gian tự do để các quan viên dễ dàng bộc lộ những phẩm chất của con người cá nhân trần tục, những tâm trạng đi ra ngoài vòng luân lý chính thống. Trong không gian hát ả đào, dường như người ta được chính là mình, không màu mè quan cách, không mũ cao áo sang. Lời bài hát nói tất nhiên được các cô đào có giọng ngọt, với tiếng đàn hay trình diễn kèm theo nhịp trống cắc tùng của người tài tử ngồi nghe tán thưởng và hát theo. Trong bộ môn nghệ thuật này, không có sự phân biệt quá rõ người hát và người nghe, tất cả cảm thấy đều là nghệ sĩ. Tất cả cảm thấy mình sống trong một không gian khác, tạm thời siêu thoát khỏi không gian xã hội chật hẹp câu thúc, gò bó đầy lễ nghi phiền toái, giả tạo. Bàn về vai trò của nghệ thuật diễn xướng trong đời sống văn học nghệ thuật, trong bài viết Văn học cung đình và văn học thành thị ở Thăng Long, tác giả Trần Nho Thìn khẳng định: “Trong những cuộc hát xướng ấy, người ta bất giác trở về với phần con người của mình, thôi mũ áo cao sang, bỏ sự đường bệ uy nghiêm. Nguyễn Công Trứ còn bảo Khi đắc ý mắt đi mày lại. Có lẽ chúng ta phải nghĩ đến một vai trò to lớn cho hát ca trù và các nghệ sĩ ả đào trong quá trình đưa các văn nhân, nghệ sĩ của Thăng Long trở lại với con người tự nhiên, đời thường. Mảng văn học cung đình thiên về thể hiện con người thánh nhân, quân tử còn mảng văn học thành thị lại tạo cơ hội cho sự khẳng định của con người tự nhiên, phàm trần. Dẫu làm quan hay trở thành các hàn nho, hàn sĩ, nhiều tác giả văn học Thăng Long thế kỷ XVIII- đầu thế kỷ XIX đã bắt đầu ý thức về con người nghệ thuật của họ. Con người văn chương đã phần nào tách khỏi con người chính trị. Thơ không còn thuần túy là phương tiện nói chí tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; văn không còn thuần túy là công cụ giáo huấn đạo lý. Cái hay, cái đẹp, sự sống đời thường được họ quan tâm. Từ đây mà cái tôi trong thơ nhà nho đã thay đổi, từ con người chính trị chuyển mạnh qua con người nghệ thuật”. Điều này hoàn toàn khác với nghệ thuật sân khấu tuồng truyền thống, bởi tuồng là sân khấu của những anh hùng, thường diễn về những đề tài mang tính chính thống nên hầu như ít tạo ra những cách tân cho đời sống văn nghệ.

Tuồng là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền đặc sắc của Việt Nam. được hình thành trên cơ sở ca vũ nhạc và các trò diễn xướng dân gian vốn có từ lâu đời và rất phong phú của dân tộc Việt Nam. Đến cuối thế kỷ XVIII, Tuồng đã phát triển một cách hoàn chỉnh mọi mặt từ kịch bản văn học đến nghệ thuật biểu diễn. Khác với các loại hình sân khấu truyền thống khác, tuồng mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương nhân vật tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật Tuồng. Có thể nói Tuồng là sân khấu của những người anh hùng. Những đặc trưng trên đã chi phối nghệ thuật trình diễn. Sân khấu tuồng thực chất là sân khấu gợi cảm, gợi tưởng tượng. Từ đó, các nghệ sỹ tuồng đã sử dụng phương pháp nghệ thuật ước lệ, cách điệu. Nghệ thuật tuồng không tả thực mà tả ý, không đi sâu vào những chi tiết tỉ mỉ mà chú trọng lột tả cái thần (phần cốt lõi, bản chất) của sự kiện và con người; dùng phương pháp gợi tả để lôi kéo, kích thích trí tưởng tượng của khán giả cùng tham gia sáng tạo và đồng cảm với nghệ sỹ biểu diễn. Người ta còn có thể tìm thấy trong tuồng cổ niềm ngưỡng vọng đoái tiếc đối với một xã hội có truyền thống võ trị, ở đó những chiến công hiển hách nhất là đoạt lại chính nghĩa bằng thảo phạt, gìn giữ đạo lý và tình người bằng uy vũ. Từ nguyên gốc là những điển tích Trung quốc cổ xưa vốn nhuốm màu dã sử và quan niệm dân gian khoáng đạt, thừa hưởng thành tựu rực rỡ của giai đoạn tiểu thuyết Minh- Thanh, Tuồng cổ Việt Nam càng đi sâu vào đời sống càng trở thành đại diện sâu xa thiết thân của thẩm mỹ đại chúng và bao giờ cũng xoay quanh hai chủ đề “quân”, “quốc”. Không gian diễn xướng của tuồng truyền thống chủ yếu là trong cung đình, cốt truyện và nhân vật chủ yếu dựa vào các điển tích thời xa xưa, ít có những sáng tạo nghệ thuật mới. Trong khi đó môi trường diễn xướng của ca trù lại không bó hẹp trong không gian cung đình mà còn xuất hiện trong các tư gia, ca quán với đối tượng thưởng thức là những quan viên am hiểu về nhịp, phách, thơ văn. Trong cuộc hát ả đào, người đi nghe hát cũng là người sáng tác. Trên chiếu hát cô đầu, cả quan viên và đào nương đều lắc lư theo tiếng trống chầu tom chát chuyền tải những nỗi niềm tâm sự của con người tự nhiên, phóng túng. Xuất phát từ nhu cầu thưởng thức và việc sáng tác thơ ca của các quan viên đã trực tiếp góp phần làm dân chủ hoá đời sống văn nghệ dân tộc./.

Mặt trận Biển Đông khi nào yên tĩnh? – vnn

20 Tháng 5

Những khoảnh khắc quan trọng trong lịch sử ít khi được dự đoán trước và dự đoán đúng. Điều này có hoàn toàn chính xác khi một động thái quân sự hay pháp lý có thể giúp các bên hạ nhiệt trong cuộc tranh chấp vốn đã tồn tại từ lâu?

Giữa lúc Trung Quốc và Philippines (PLP) đang vờn nhau tại vùng bãi đá ngầm Scarbrough, ngày 13/5 Mỹ đã điều tàu ngầm USS North Carolina, loại tàu ngầm tấn công hạng tối tân nhất vào cảng PLP. Chiếc tàu ngầm này được tuyên bố sẽ ở lại PLP đến 19/5 để tu bổ định kỳ. Theo các khẳng định từ phía Mỹ và PLP, sự hiện diện của chiếc tàu ngầm này không liên quan gì đến tranh chấp chủ quyền trên bãi cạn Scarborough giữa Bắc Kinh và Manila từ hơn tháng nay.

Họa phúc phải đâu một buổi

Gần đây, dư luận chứng kiến hàng loạt tuyên bố sắt máu của các tướng lĩnh TQ. Tướng La Viện, một chuyên gia hoạch định chính sách của Quân Giải phóng TQ coi việc PLP đối đầu với TQ như trứng chọi đá, TQ đủ sức chơi đến cùng, PLP thì ngược lại, chỉ hao tiền tốn của mà thôi. Tướng Trương Triệu Trung, Đại học Quốc phòng TQ còn đưa ra sáng kiến, dùng tàu cá chở thuốc nổ đánh chìm khu trục hạm tàng hình DDG-1000 hiện đại nhất của Mỹ.

Theo tướng Kiều Lương, Phó chủ nhiệm Ủy ban chính sách an ninh quốc gia TQ, tranh chấp trên Biển Đông là điều Bắc Kinh không thể né tránh. “Kháng nghị ngoại giao không ăn thua, dùng vũ lực lại là biện pháp cuối cùng”. Tướng Kim Nhất Nam, Đại học Quốc phòng TQ cũng cảnh báo, nếu coi thái độ “kiềm chế chiến lược” của Bắc Kinh là “thời  cơ chiến lược” của Manila thì TQ cần có hành động cảnh cáo. Chỉ cần PLP “đi quá đà”, thì không sưng đầu cũng mẻ trán.

Sự kiện tàu ngầm Mỹ cập neo tại vùng biển PLP lần này không phải là hiện tượng đơn nhất. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao PLP ngày 4/5 cho biết, viện trợ quân sự của Washington cho Manila trong năm 2012 sẽ lên tới 30 triệu usd, tức là tăng gấp ba lần so với các năm khác. Mỹ đồng thời cam kết sẽ cập nhật các thông tin liên quan đến vùng biển của Philippines, qua đó, giúp PLP tăng cường khả năng thực thi pháp luật, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình.

Việc Mỹ tăng cường viện trợ quân sự đã được khẳng định trong chuyến viếng thăm Washington gần đây của Ngoại trưởng Alberto de Rosario và Bộ trưởng Quốc phòng Voltaire Gazmin. Trong chuyến đi này, Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng PLP đã hội đàm với Ngoại trưởng Hillary Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta. Manila còn đề nghị Washington cung cấp tàu chiến, máy bay và hệ thống radar nhằm hiện đại hóa binh chủng hải quân PLP.

Ngư dân Philippines tại bãi Scarborough Shoal. Ảnh Reuters.

 

Vẫn theo đại diện Bộ Ngoại giao PLP, nguồn tài chính trong viện trợ quân sự có thể được dùng để mua các thiết bị quân sự mới hoặc bảo trì các thiết bị hiện có. Bộ Ngoại giao Mỹ cũng đang tìm kiếm thêm các nguồn tài chính khác để giúp đỡ PLP. Năm ngoái, PLP đã đón nhận một tàu chiến lớp Hamilton của Mỹ. Trước đó, Washington đã giao một tàu tuần tra cho Manila. Việc chuyển giao các thiết bị kỹ thuật này diễn ra vào thời điểm Mỹ đang giảm ngân sách quốc phòng.

Dư luận thế giới, nhất là các nước trong khu vực, từ lâu từng bức xúc trước việc TQ tuyên bố có chủ quyền đối với gần 80% diện tích Biển Đông, bao gồm cả lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và một số nước Đông Nam Á. Trong những tháng qua, PLP liên tục bày tỏ lo ngại trước thái độ hung hăng, quyết đoán của TQ, tại những vùng biển mà PLP khẳng định thuộc chủ quyền của mình và ở những nơi đang có tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh.          

Sự ngang phân về an ninh là giải pháp?

Với những tranh chấp lãnh thổ kéo dài, ít nhất bắt đầu từ năm 1965 như đã từng diễn ra ở bãi đá ngầm Scarborough này, sự bất ngờ bùng nổ gần đây giữa TQ và PLP được các nhà phân tích dự đoán, ngoài những chuyển dịch về địa-chính trị trong khu vực, còn liên quan đến tình hình nội trị trong mỗi nước. Mặt trái của việc kích động chủ nghĩa dân tộc ở mỗi nước đã khiến cho các nhà ngoại giao lúng túng trong lựa chọn chính sách với những điều kiện hiện nay.

TQ thể hiện lập trường cứng rắn đúng vào thời điểm đang có bê bối chính trị liên quan cựu Bí thư Trùng Khánh Bạc Hy Lai. Giới quan sát cũng cho rằng thông qua chủ đề biển đảo, Đảng Cộng sản TQ đang muốn chứng tỏ rằng nội bộ đảng vẫn đoàn kết và đủ sức mạnh bảo vệ lãnh thổ cho dù đang có nhiều đồn đoán trước kỳ Đại hội cuối năm nay. Các nhân vật đang nhắm những vị trí lãnh đạo cấp cao nhất cũng đang muốn chứng tỏ tinh thần dân tộc và liên hệ với phe quân đội.

Trong khi đó, PLP cũng đang cảm thấy hiện nay là thời điểm có thể tỏ thái độ cương quyết hơn đối với TQ, nhờ vào chính sách “chuyển trục sang châu Á” của chính quyền Obama, và PLP tin rằng, Mỹ sẽ hỗ trợ PLP trong trường hợp cần thiết. PLP trù liệu rằng, nếu Bắc Kinh hung hăng quá mức thì các nước khác trong khu vực, trong đó có Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines sẽ xích lại gần nhau hơn, cũng như sẵn sàng hơn trong việc nâng cấp quan hệ với Mỹ để làm đối trọng.

Sự đối đầu giữa TQ và PLP trên Biển Đông cũng không diễn ra một mình. Hàng loạt các sự kiện liên đới như diễn tập quân sự chung Mỹ – PLP, giao lưu hải quân Mỹ -  Việt, tái khẳng định đồng minh quân sự Mỹ – Nhật, Mỹ điều quân đến Ốtxtrâylia, tàu sân bay đầu tiên của TQ đã nhiều lần thử ra khơi, cuộc thử nghiệm máy bay chiến đấu tàng hình J-20 của TQ… cho thấy ván bài an ninh Mỹ – Trung nói riêng và giữa các nước lớn nói chung đang đứng trước khúc quanh quan trọng.

Luật quốc tế, trong đó có cả Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) lẫn Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) đều không đươc cả TQ, Mỹ và PLP công nhận một cách chính thức. Tuy nhiên, tổng thống PLP Aquino, trong một động thái được coi là để kiềm chế căng thẳng, đã tuyên bố: “Lúc này chúng tôi không muốn làm gia tăng căng thẳng. Những gì Manila đang làm là chuẩn bị các hồ sơ và đưa vấn đề ra trước tòa án ITLOS.

Có thể PLP hy vọng, thời gian tới đây, Mỹ sẽ nhanh chóng phê chuẩn UNCLOS, từng được tranh luận lâu nay trong nội bộ nước Mỹ, nhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia của Mỹ ở khu vực CÁ-TBD. Nếu điều này chưa xẩy ra thì việc PLP yêu cầu sự trợ giúp quân sự của Mỹ đối với bãi đá ngầm Scarbrough sẽ thiếu cơ sở pháp lý vững chắc. Tuy nhiên, PLP cho biết nước này sẽ đơn phương và liên tục đề xuất lên ITLOS, bất luận TQ từ chối tham dự phiên tòa.

Cuộc tranh chấp giữa Bắc Kinh và Manila đến nay vẫn đang dừng ở mức khẩu chiến. Dù có thêm sự “khua chiêng gõ trống” từ truyền thông, dư luận vẫn mong đợi là tình hình không xấu thêm. Biển Đông chỉ có thể yên tĩnh khi tất cả các bên chấp nhận sự thượng tôn luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS và ITLOS. Ngoài ra, một sự cân bằng tương đối về an ninh, mà việc xuất hiện chiếc tàu ngầm của Mỹ có thể là biểu tượng hoặc ngẫu nhiên, chưa hẳn đã là giải pháp cuối cùng.

Hải Đăng

Thế giới 24h: Sặc sụa hơi thở chiến tranh – vnn

20 Tháng 5

Hạ viện Mỹ thông qua một nghị quyết đẩy Mỹ tới gần cuộc chiến chống Iran hơn, đồng thời chi mạnh hơn cho ngân sách quốc phòng, các vụ nổ ở Italy và Trung Quốc… là những thông tin nóng trong những giờ qua.

Nổi bật trong ngày

Hạ viện Mỹ mới thông qua một nghị quyết về vấn đề Iran, đẩy Mỹ tới gần hơn một cuộc chiến tranh nhằm vào Iran. Trong khi đó, rất nhiều chuyên gia và nhà ngoại giao cảnh báo rằng Mỹ đã sẵn sàng tấn công.

Việc bỏ phiếu này đã làm xói mòn các cuộc đàm phán về vấn đề hạt nhân của nhóm P5+1 vào tuần tới, tất nhiên có sự tham dự của Mỹ.

Trước lúc bỏ phiếu, nghị sĩ Dennis Kucinich (bang Ohio) – một người chỉ trích nặng nề nghị quyết này và cũng là một trong số ít người bỏ phiếu chống – đã cảnh báo rằng Mỹ “đang sẵn sàng cho một cuộc chiến chống lại Iran” khi tiến hành bỏ phiếu vào hôm thứ Năm vừa qua.

Nghị quyết H.Res.568 được bỏ phiếu với tỉ lệ áp đảo: 401-11, kêu gọi tấn công quân sự lên Iran khi nào Tehran có được “tiềm lực vũ khí hạt nhân”. Những người chỉ trích cho rằng việc cắt nghĩa rất mơ hồ khi áp đặt lên trường hợp của Iran mà không đề cập tới Brazil, Nhật, Hà Lan và bất kỳ quốc gia nào khác có chương trình hạt nhân vì mục đích dân sự.

Đại tá Lawrence Wilkerson – cựu Tham mưu trưởng cho Bộ trưởng Quốc phòng Colin Powell – cảnh báo rằng “Nghị quyết này đọc lên y hệt như một bản nhạc đã dẫn chúng ta vào cuộc chiến Iraq, và đó có thể là một điềm báo cho một cuộc chiến với Iran. Đây rõ ràng là một ngụy trang giả tạo để ban phước cho cuộc chiến”.

Trong văn bản cho biết tài liệu này “ủng hộ mạnh mẽ chính sách của Mỹ nhằm ngăn chính quyền Iran sở hữu tiềm lực vũ khí hạt nhân, bác bỏ mọi chính sách của Mỹ dựa trên các nỗ lực kiềm chế việc Iran có vũ khí hạt nhân”.

Luật này cũng thúc giục Tổng thống ‘xác nhận lại việc không thể chấp nhận một nước Iran cùng với tiềm lực hạt nhân và phản đối mọi chính sách có thể dựa trên việc chấp nhận một phương án để phản ứng lại mối đe dọa hạt nhân Iran’.

Kucinich tin rằng giọng điệu trong tài liệu này cho thấy một sự thay đổi rất lớn trong chính sách của Mỹ vì lời lẽ này hàm ý rằng ông Obama đang bị thúc giục để từ bỏ chính sách kiềm chế mà Mỹ đã theo đuổi trong quan hệ với Iran.

Tin đọc 30 giây

- Hạ viện Mỹ hôm qua đã thông qua luật ủy quyền quốc phòng quốc gia đề cập tới việc triển khai các vũ khí hạt nhân chiến lược trên bán đảo Triều Tiên.

- Một vụ đánh bom bên ngoài trường học ở thành phố Brindisi, miền Nam Italy lúc 7h45 (tức 5h45 GMT) sáng 19/5 đã khiến ít nhất 1 nữ sinh thiệt mạng và 7 người khác bị thương.

- Một vụ nổ trong đường hầm tại một địa điểm xây dựng trên tuyến quốc lộ ở miền Trung Trung Quốc đã khiến 19 công nhân thiệt mạng.

- Bộ Ngoại giao Ukraine ngày 18/5 cho biết nước này sẽ không nộp đơn xin hưởng quy chế ứng cử viên gia nhập Liên minh châu Âu (EU) trong tương lai gần.

- Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc đang khai thác công nghê phương tây thông qua thương mại, ráo riết xây dựng mạng lưới tình báo trên mạng và chế tạo thêm nhiều tên lửa đối hạm trong chương trình tăng cường sức mạnh quân đội rất rõ ràng của nước này.

- Chính quyền Hy Lạp ngày 19/5 đã công bố sắc lệnh của tổng thống về giải tán quốc hội và tuyên bố tổ chức một cuộc bầu cử quốc hội mới trước thời hạn vào ngày 17/6 tới.

- Một chiếc máy bay Boeing của hãng hàng không Iceland đã hạ cánh an toàn trong khi bị thiếu mất một bánh xe.

- Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật chi tiêu quốc phòng năm 2013 với mức ngân sách 642,5 tỷ USD, trong đó bao gồm cả ngân sách cho các cuộc chiến tranh, cao hơn 8 tỷ USD so với mức đề nghị của Lầu Năm Góc.

-Indonesia đã chính thức chấm dứt hoạt động tìm kiếm và vận chuyển thi thể các nạn nhân trong vụ tai nạn máy bay Sukhoi Super Jet 100.

Bức ảnh trong ngày

Hơn 2000 người biểu tình đã tập trung tuần hành tại Chicago, Mỹ để phản đối các chính sách của G-8 và NATO. Ảnh: THX

Phát ngôn ấn tượng

“Chúng ta cần bảo vệ những gì thuộc về chúng ta. Chúng ta phải đứng dậy ngay cả khi chúng ta tìm cách giải quyết tranh chấp này trong hòa bình. Chúng ta cần đoàn kết, cần thể hiện lòng yêu nước vào lúc này. Và trong trường hợp bắt buộc, chúng ta cần phải hy sinh” – Ngoại trưởng Albert Del Rosario kêu gọi người dân sẵn sàng đứng lên để bảo vệ chủ quyền của nước này tại bãi cạn cũng như vùng biển phía tây Philippines nếu bị thách thức.

Ngày này năm xưa

20/5/1506: Columbus Christopher qua đời tại một thành phố nhỏ trong sự nghèo nàn và lãng quên. Ông là người thực hiện chuyến thám hiểm đầu tiên qua Đại Tây Dương và tìm ra châu Mỹ.

Lê Thu (Tổng hợp)

Trung Quốc lén vi phạm, ta lén xử lý – BS

19 Tháng 5

Các cơ quan truyền thông tỉnh Khánh Hòa vừa nhận chỉ thị không được đưa tin vụ 2 tàu hút bùn Trung Quốc xâm phạm trái phép vịnh Nha Trang (tối 23-3-2012) và chư tăng Khánh Hòa ra Trường Sa làm Phật sự nữa.

Trước đó, khi vụ tàu hút bùn vừa xảy ra, báo chí phỏng vấn, chỉ huy biên phòng Khánh Hòa cung cấp thông tin khá chi tiết. Nhưng sau đó, báo chí đề nghị cung cấp thông tin diễn biến xử lý 2 tàu này, thì chỉ huy biên phòng nói chờ Hà Nội chỉ đạo (có hẹn ngày cụ thể), sẽ thông tin cho báo chí. Cuối ngày hẹn, báo chí điện hỏi, chỉ huy biên phòng lập… bập: “Lạy các bố! Vấn đề… rất nhạy cảm. Chúng tôi bị BBC nó đưa tên lên mạng. Làm tôi bị kiểm điểm. Thôi… không… thông tin… đâu nhé!”.

 

Mới đây, nguồn tin đáng tin cậy cho hay, ngày 17-5, công an TP Cam Ranh phát hiện và xử lý 7 thương nhân Trung Quốc đến Cam Ranh thu mua cá, nhưng không có giấy phép hoạt động. Họ sử dụng tới 5 doanh nghiệp ở địa bàn làm vệ tinh mua gom, làm các nhà máy chế biến đông lạnh trong khu vực “chết dở sống dở” vì thiếu nguyên liệu. Những vụ việc tương tự của đầu nậu nông hải sản Trung Quốc, lâu nay đó đây vẫn đưa tin bình thường. Không biết nhận chỉ thị từ cấp nào, hay là não trạng “tự nhận thức”, ông Điện – Phó trưởng Công an TP Cam Ranh , chỉ huy trực tiếp xử lý, kiên quyết từ chối cung cấp thông tin cho báo chí, nói “vấn đề cực kỳ… nhạy cảm”.

Nói “Trung Quốc lén vi phạm, ta lén xử lý” có lẽ chưa thật chính xác. Đã có dấu hiệu cho thấy, nhận thấy Việt Nam càng dè dặt, ấp úng, rón rén xử lý nhẹ hều, hoặc chìm xuồng các vụ tương tự, Trung Quốc ngày càng hung hăng táo tợn, ngang nghiên vi phạm, coi Biển Đông như ao nhà, coi Việt Nam như sân chơi vô chủ.

Câu hỏi đặt ra: cấp nào? cá nhân nào chủ trương lén lút xử lý Trung Quốc vi phạm? Ai tiếp tay Bắc Kinh ngày càng lộng hành ngang ngược? Ai làm dân ta mất cảnh giác hiểm họa phương Bắc?

Trong lịch sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc, ở đời Trần, tương quan lực lượng Đại đế quốc cường bạo Nguyên Mông – Đại Việt chắc chắn chênh lệch hơn nhiều so với so sánh Trung – Việt hiện nay. Ở thế kỷ XIII, Nhà Trần chống Nguyên Mông không có trợ giúp quốc tế, thậm chí còn bị Ai Lao, Chiêm Thành cho Nguyên Mông mượn đường bao vây xâm lược. Nhưng Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, vị tư lệnh kháng chiến, đâu có chủ trương nhịn nhục, bưng bít tội ác giặc Nguyên Mông? Chính ông đã làm “Hịch Tướng sĩ”, hạch tội giặc Nguyên, khích lệ ba quân tướng sĩ “mổ bụng lột da quân giặc”. Nhờ đó, toàn dân hiểu rõ bụng giặc, khẳng định quyết tâm “Sát Thát” ở Hội nghị Diên Hồng, để rồi 3 lần đại thắng Nguyên Mông, chấm dứt vĩnh viễn mộng thôn tính Đại Việt của nhà Nguyên.

Không lẽ hậu duệ chẳng còn chút dòng máu oai hùng cha ông thuở nào?

Trầm Hương Xứ

Xem thêm:

- (Ba Sàm/25-03-2012);  - (Ba Sàm/27-03-2012)

- Thương lái Trung Quốc quỵt nợ tràn lan (TN).  – Tiên trách kỷ- Điều tra vụ thương lái Trung Quốc quỵt nợ (TN). - Ai quản những thương lái Trung Quốc ôm tiền mua cua về nước? (LĐ).

- Vụ việc xảy ra 10 ngày nay chưa nghe tin kết quả xử lý: + Tài xế taxi bị khách Trung Quốc đạp văng khỏi xe (TN). + Không có tiền, khách Trung Quốc đá văng tài xế taxi (Bee).  + Thực hư hai người Trung Quốc cướp taxi (TP).

- Còn đây có lẽ là vụ “lén xử lý”/”không xử lý” lớn nhất: Hàng trăm công nhân Trung Quốc đánh hội đồng dân Việt Nam tại Thanh Hóa (VNN, 2009).

Những lỗi lầm làm tim Bác thêm đau

19 Tháng 5

“Nỗi đau dân nước” giờ đây là gì, khi mà sự nghiệp giải phóng dân tộc đã hoàn thành, non sông quy vào một mối đã hơn phần ba thế kỷ, bằng thời gian của cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc gộp lại?

Dạo ấy, trong “Cửa Mở”, một tập thơ làm xáo động dư luận một thời, Việt Phương viết vào dịp Bác Hồ mất, mở đầu bài: “Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương”:

“Trời đổ mưa, đi viếng Bác, đồng bào chờ, bị ướt

Bác thương đồng bào, con biết Bác không vui”.

Những ngày này thì trời lại đang nắng gắt. Đài truyền hình vừa đưa tin những vùng đất chuyên canh trồng ngô huyện miền núi ở Lào Cai đang nứt nẻ. Chẳng phải chỉ ở miền núi mới có nắng nóng như thiêu, như đốt, Hà Nội cũng đang nóng dữ.

Vậy thì liệu “trời không đổ mưa” như buổi ấy có làm khuây khỏa được nỗi niềm “không vui” của Bác như tác giả của “Cửa Mở” day dứt?

Cũng vào dịp ấy, Tố Hữu viết:

Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau

Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu…

Đau, bởi nhẽ

“Bác ơi tim Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông mọi kiếp người [Bác ơi!]

Chao ôi, “nỗi đau dân nước” buổi ấy là nỗi đau chiến tranh, nỗi đau của những người mẹ khắc khoải ngóng con từ chiến trường máu lửa tàn khốc, nỗi đau của người vợ nhận được tin dữ, nỗi đau của bom B52, của chất độc “diệt cỏ” rải xuống cây cỏ, xóm làng, nỗi đau của xà lim “chuồng cọp”, trại tập trung tra tấn tù đày, bọn chó săn tay sai rình rập khắp nơi để đe dọa, bắt bớ, đánh đập những người yêu nước…

Thế còn “nỗi đau dân nước” giờ đây là gì, khi mà sự nghiệp giải phóng dân tộc đã hoàn thành, non sông quy vào một mối đã hơn phần ba thế kỷ, bằng thời gian của cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc gộp lại?

Gộp lại thời gian thì đồng thời cũng “gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thành nỗi đau của tôi” tích tụ trong trái tim Hồ Chí Minh. Câu này Bác nói với một nhà báo nước ngoài 50 ngày trước khi mất, lúc “ngừng đập trái tim tột bậc con người” [Việt Phương. Cửa Mở].

 

Ảnh tư liệu

 

Chính vì thế, chắc là trong những ngày này Bác cũng khó vui khi “người thắng trận này không phải nhân dân” [Nguyễn Minh Thuyết. Đối thoại]

và ” …Khi mồ hôi trở nên quá rẻ Kẻ ranh ma trở nên quá giàu” [Nguyễn Khoa Điềm. Cánh đồng buổi chiều]

Đắm mình trong những miên man suy ngẫm cứ ngỡ như là Bác đã nói về những điều này khi trong Di chúc Bác đã lưu ý đến “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”! Đây là điều Hồ Chí Minh gọi là “cuộc chiến đấu khổng lồ”, mà để giành thắng lợi thì phải “động viên toàn dân, tổ chức giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”!

“Những cái cũ kỹ, hư hỏng” thì đã quá rõ, cho dù thông thường thì chúng lại đội lốt của người vì nước vì dân để lừa mị dân. Thế còn những “cái mới mẻ tốt tươi” là gì nếu không phải là dân chủ và tự do? Độc lập đã hoàn thành, vấn đề còn lại phải là dân chủ và tự do. Ai cũng nhớ câu nói của Hồ Chí Minh từ những ngày chính quyền mới thành lập năm 1946: “Nếu độc lập mà dân không được hưởng tự do và hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”.

Dân chủ là tiền đề tất yếu để có tự do và hạnh phúc, là công cụ và phương tiện để đấu tranh giành tự do và xây đắp hạnh phúc. Không ai cho không quyền đó. Máu chảy thành sông, xương chất thành núi để giành độc lập, điều kiện tiên quyết để đấu tranh cho dân chủ và tự do! Phải chăng đây chính là “cuộc chiến đấu khổng lồ”? Nghĩ kỹ về cuộc “chiến đấu khổng lồ” mà Bác viết trong Di chúc có dáng dấp của những lời tiên tri.

Tiên tri? Đúng như vậy. Có người gọi là “những dự cảm thiên tài” của những tầm vóc vĩ nhân. Xin gợi lại vài cứ liệu lịch sử để hiểu thêm về điều đó: Ví như, năm 1941, trong cuốn sách nhỏ Bác viết làm tài liệu tuyên truyền về “Lịch sử nước ta” bằng thơ lục bát, ở cuối có mục “Những năm tháng quan trọng”, Bác viế : “1945-Việt Nam độc lập”! Trong Hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, lúc ấy “Anh em có người nói sớm, kẻ nói muộn. Bác nghe trao đổi chỉ nói:” Để rồi xem”.

Một ví dụ khác: trong diễn văn đọc tại lễ mừng Quốc khánh 2.9.1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc-Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”. Trong bút tích bản thảo in trên báo “Nhân Dân” số ra ngày 30.4.1985 cho thấy: Bác gạch dưới những chữ “chậm lắm là 15 năm nữa”! Rồi chuyện Bác từng căn dặn Tư lệnh bộ đội Phòng không-Không quân: “Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội!

Phải chăng những dấu ấn của thiên tài ấy là sự thăng hoa kỳ diệu của bản lĩnh Hồ Chí Minh. Bản lĩnh dám đặt ra và giải quyết những vấn đề lý luận có ý nghĩa thực tiễn. Vì mục tiêu trước sau như một là giải phóng dân tộc, đem lại độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân mà Hồ Chí Minh dám có quyết định táo bạo, cho dù đau đớn, là tuyên bố Đảng tự giải tán chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Không kiên định tinh thần Tổ quốc trên hết, không thể có bản lĩnh để vạch ra quyết sách sáng suốt tuy hết sức đau đớn ấy.

Đúng là “Hồ Chí Minh là người linh hoạt, chủ động, từ việc lớn đến việc nhỏ, từ tuổi thanh niên đến cuối đời. Có thể nói con người ấy có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”. Có được điều đó vì “Hồ Chí Minh có sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, thấu hiểu cuộc sống con người, có nhận thức sâu về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại”. Với những phẩm chất được hun đúc, trui rèn trong ngọn lửa chiến đấu hơn nửa thế kỷ, đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử, người thanh niên yêu nước, bằng bản lĩnh phi thường của mình đã trở thành Hồ Chí Minh.

Đúng là không phải chiếc ghế nguyên thủ quốc gia mà chính là sự “nhạy cảm”, sự “thấu hiểu”, “sự nhận thức” đó khiến cho Người được lịch sử chọn lựa làm lãnh tụ của nhân dân ở vào thời điểm có ý nghĩa nhất, đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống đất nước cần bước vào quỹ đạo chung của thời đại. Trong dòng chảy bất tận của thời gian, có những thời điểm xuất hiện những con người đáp ứng một cách tuyệt vời đòi hỏi đã chín muồi của lịch sử, người ta gọi đó là sự xuất hiện của thiên tài.

Ảnh tư liệu

 

Điều này cho thấy thiên tài không ra đời từ những cuộc tranh bá đồ vương để giành nhau chiếc ghế quyền lực. Đành rằng trong lịch sử không thiếu những nhân vật cũng đã bước vào lịch sử bằng con đường như vậy, những hôn quân, bạo chúa, những gian thần, nghịch tướng bán nước, bàn chúa cầu vinh, muôn đời bị phỉ nhổ. Phải chăng sự bi hài của lịch sử là có sự trộn lẫn chính tà ấy để giúp cho nhân dân có dịp nhận ra chuyện vàng thau lẫn lộn ấy. Đó cũng là cách để cho nhân dân tự vượt lên chính mình, biết tự “xoay chung quanh mặt trời của chính mình” mà không để bị những ngón đòn lừa mị, ru ngủ của bọn thống trị như C.Mác đã từng chỉ ra. Và đó cũng là lý do trong Di Chúc, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải “động viên toàn dân, tổ chức giáo dục toàn dân”.

Điều cần nói rõ là thiên tài Hồ Chí Minh không đứng cao vời vợi tách khỏi cuộc sống bình thường của người dân mà ngược lại. Thiên tài Hồ Chí Minh, bản lĩnh Hồ Chí Minh được hun đúc từ cuộc sống của nhân dân mình. Mỗi người Việt Nam đều có thể nhìn thấy mình trong sự nghiệp Hồ Chí Minh, trong trái tim của Hồ Chí Minh. Cái làm nên thiên tài Hồ Chí Minh, rèn đúc nên bản lĩnh ấy là vì nhịp đập của trái tim “Người Yêu Nước Hồ Chí Minh” luôn gắn quyện với nhịp đập của cuộc sống đất nước, nơi mà người ấy gửi gấm một “ham muốn, ham muốn đến tộc bậc” là làm sao đem lại cuộc sống ấm no cho con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân.

Không có trái tim ấy, không thể có bản lĩnh ấy. Vì rằng, “ở đâu nội dung của sự tất yếu phổ biến không nhất trí được với trái tim, thì sự tất yếu ấy – xét về nội dung- không là gì cả, và phải nhường chỗ cho quy luật của trái tim”. Có lẽ thực chất của “quy luật trái tim” mà Hégel nói đây trước hết là sự trung thực với chính mình, là bản sắc cá nhân được thể hiện một cách chân thực. Vì nói cho đến cùng , quy luật của trái tim là sự phản ánh chân thực nhất biện chứng của cuộc sống với tất cả những sắc thái phong phú và phức tạp của nó. Cho nên, những gì mà trái tim thờ ơ thì mắt cũng không nhìn thấy được!

Cho nên, với Hồ Chí Minh,

“Khi đã quyết rất kiên cường mạnh mẽ

Đốt cháy Trường Sơn đánh Mỹ cũng không sờn”

nhưng

“Bác không bằng lòng gọi trận đánh chết nhiều người là “đánh đẹp”

Con xóa chữ “đẹp” đi như xóa sự cạn hẹp trong lòng con

Thêm hiểu lòng người đối với quân thù như sắt thép

Mà tình thương mênh mông ôm hết mọi linh hồn”.[ Việt Phương. nt]

Với Hồ Chí Minh, “tình thương mênh mông ôm hết mọi linh hồn” ấy trước hết là thương dân, trọng dân vì nhận  thức rõ sức mạnh bất tận của dân. Đây là điểm cốt lõi trong tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh. Nói học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mà không trước hết vận dụng một cách thiết thực tư tưởng cơ bản này thì chỉ là nói suông.

Đặc biệt, cần lưu ý điều mà Hồ Chí Minh khẳng định rất dứt khoát: “nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân , tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ”. Cần nhớ rằng, điều này được nhắc nhở vào năm 1947 khi Bác phê phán gay gắt lối “Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo…Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại!”

Việc “đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ” là điều tối kỵ đối với người cầm quyền. Có phải khi nói đến điều này, như vẫn thường làm, Bác đã nhắc đến luận điểm của Mạnh Tử: “Vua coi dân như cỏ rác thì dân coi vua như cừu thù” và lên án việc đẩy dân đến chỗ là “cừu thù” rồi dùng hình phạt hà khắc để trừng trị họ “khác nào đặt lưới bẫy dân” .

Mạnh Tử viết: “Nhà cầm quyền không thể bỏ lỡ việc sinh nhai của dân…thường tình của dân là có hằng sản mới có hằng tâm, không có hằng sản thì không có hằng tâm. Không có hằng tâm thì … chẳng cái gì là chẳng làm, đến khi phạm pháp thì người cầm quyền vin vào đó mà chém giết họ, như vậy không khác gì đặt lưới mà bẫy họ. Bậc nhân đức… trị dân mà lại đặt lưới bẫy dân sao? Vậy cho nên bậc hiền quân phải khiêm cung, tiết kiệm, lễ độ đối với dân” ["Đằng văn công thượng"]. Vì vậy, Mạnh Tử giải thích: “Kẻ làm hại đức nhân là “tặc”, kẻ làm hại đức nghĩa là “tàn”. Kẻ tàn, kẻ tặc chỉ là một người thường thôi [không đáng gọi là vua]. Tôi nghe nói vua Võ Vương chỉ giết một người tên là Trụ chứ chưa nghe nói giết vua. ["Lương Huệ Vương hạ"]. Đây là đoạn nhà tư tưởng thời Chiến Quốc giảng cho học trò về mệnh trời và thuyết “nhất trị, nhất loạn”: Trong chương “Thư Thái thệ” Mạnh Tử giải thích: Kinh Thư có câu: “Trời không có mắt có tai, dân nhìn tức là trời nhìn, dân nghe tức là trời nghe”, cho nên theo ý dân tức là theo ý trời. “Trời nổi giận, sai ta xét tội của Trụ, ta phải kính sợ mệnh lệnh và uy của trời”! Ý dân là ý trời là theo nghĩa đó. Nói theo chữ nghĩa bây giờ là tuân theo quy luật vận động của cuộc sống.

Cho nên, không “đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ” cũng chính là “không đặt lưới mà bẫy họ” là điều đã được cảnh báo từ hơn hai nghìn năm trước. Vì vậy Hồ Chí Minh đòi hỏi “phải đưa chính trị vào giữa dân gian” phải “tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Làm được điều ấy chính là đi đúng vào quỹ đạo của tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, điều mà hiện nay đang được thường xuyên rao giảng. Đi ngược lại chính là phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh. Cho nên, lắng nghe tiếng nói của dân, tiếp nhận nguồn sức mạnh từ dân chính là điều Hồ Chí Minh thiết tha căn dặn. Nói theo ngôn từ và hình tượng thơ thì như tác giả “Cửa Mở” đã viết từ những năm 60 thế kỷ trước, đó là chính là

 

“Nơi sự thật chỉ cần là sự thật

Nơi lương tâm đến gặp tấm gương soi

Lời hàn huyên có màu trời hương đất

Bỗng sáng bừng chân lý hiện tinh khôi”! [Việt Phương. Cửa Mở. "người như sự sống sinh sôi"].

Một khi mà cái “màu trời hương đất” ấy bị hoen ố, bị dẫm đạp thì chắc hẳn là lòng Bác quặn đau, và cùng với Bác, tim chúng ta như có ai bóp chặt lại. Hiểu thấu được điều ấy, Việt Phương viết những câu thấm thía :

“Ta khóc những lỗi lầm làm tim Bác thêm đau”.

Đã hơn bốn thập kỷ, câu thơ vẫn nóng bỏng tình thời sự. Mà có lẽ ‘thời sự ” nhất chính là điều mà Thủ tướng Chính phủ đã nghiêm cẩn nhắc nhở những người thi hành công vụ liên quan đến miếng cơm, manh áo của dân.

Chính vì vậy, khi Việt Phương viết:

“Ta tự biết sức ta trong những dòng nước mắt”

thì mỗi người chúng ta đều cảm nhận được có mình trong đó. Vì đó là, những “…Giọt nước mắt thương dân, Dân mình phận long đong…” như người nhạc sĩ tài hoa nọ đã hát. Đó là những “dòng nước mắt trong tim. Chảy lai láng vào hồn…” [Trịnh Công Sơn.] của mỗi chúng ta. Cho nên khi “Ta khóc những lỗi lầm làm tim Bác thêm đau” thì ta hiểu được rằng đó chính là suối nguồn bất tận của tư tưởng và hành động thiết thực và mạnh mẽ khi nhớ đến, nghĩ đến sự nghiệp của Hồ Chí Minh đang cần được bảo vệ và phát huy trong những ngày kỷ niệm ý nghĩa này. Đó là cách học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh sâu sắc nhất!

____________

Tham khảo:

- Hồ Chí Minh Toàn Tập. Tập 12. NXBCTQG. Hà Nội 1995, tr. 560, tr.505.  Tập 5 . tr.294, tr. 293, tr. 298, tr.297

- Võ Nguyên Giáp. “Tổng tập Hồi Ký” NXBQĐND 2006, tr. 30

- “Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh” NXBQĐND. Hà Nội, 1990. tr.224

-  Phạm Văn Đồng “Hồ Chí Minh, Quá khứ Hiện tại và Tương lai” Tập I. NXB ST. Hà Nội 1991,tr.29, tr.98

- G.W.F.Hegel. “Hiện tượng học tinh thần.” Bùi văn Nam Sơn dịch. NXB Văn học 2006, tr.769.

GS Tương Lai

Thơ La Sơn phu tử viết về quê hương – VHNA

19 Tháng 5

Phạm Tuấn Vũ

Nguyễn Thiếp (1723-1804) tự là Khải Xuyên, hiệu là Lạp Phong cư sĩ, quê ở làng Mật Thôn, xã Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay thuộc huyện Đức Thọ) tỉnh Hà Tĩnh. Ông được đương thời tôn xưng là La Sơn phu tử. Phu tử là danh hiệu xưa kia dành cho người được coi là bậc thầy thiên hạ. Nguyễn Thiếp “thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu” và đỗ đạt sớm: hai mươi tuổi đỗ hương giải (đỗ đầu thi Hương), hai mươi sáu tuổi đỗ tam trường (đỗ ba kỳ trong bốn kỳ của thi Hội). Ông làm huấn đạo (quan coi việc học hành của phủ, huyện) sau làm tri huyện, tất cả trong vòng mười năm, sau đó về ẩn dật.Theo các nhà nghiên cứu, thơ La Sơn phu tử được giới thiệu xưa nay chưa phải là toàn bộ thơ của vị danh sĩ đất Lam Hồng. Vậy mà ta thấy trong số đó đã có nhiều bài viết về quê hương, một bài báo ngắn không thể kể ra hết được.
Vùng địa dư nay thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, xưa vốn là một đơn vị hành chính, nhưng rồi theo sự đổi thay của thời cuộc mà tách làm hai tỉnh, rồi nhập, rồi tách. Trong cảm nhận của nhiều người hiện nay, trên đất nước Việt Nam, thật khó có nơi nào “tuy hai mà một” – núi sống liền một dải, chung một truyền thống địa linh nhân kiệt, cùng một cốt cách làm người như ở nơi đây. Đọc thơ Nguyễn Thiếp, chúng ta cũng được củng cố nhận thức và tình cảm đó. Bài thơ Hoan Châu viết theo thể ngũ ngôn bát cú, ngôn từ thuần phác thật hợp để viết về vùng quê văn vật này:
Trung thổ địa tài kiệt,
Minh thời thuộc Diễn Hoan.
Niên lai văn khí thịnh,
Quang xạ Đẩu Ngưu gian.
(Đất trung thổ nhiều người tài giỏi,
Thời thịnh ở châu Diễn, châu Hoan.
Năm nay văn khí thịnh,
Sáng dọi đèn sao Đẩu sao Ngưu(1)).
Từ ngàn đời nay, tổ tiên ta dựng nước và giữ nước thật gian nan. Bởi vậy mỗi tấc núi sông đều như in bóng của tiền nhân. Với những người luôn sống với ý thức sâu sắc về quá khứ và hiện tại như Nguyễn Thiếp thì cảm thấy quá khứ oai hùng của dân tộc thật gần gũi. Lên núi Thiên Nhẫn thăm thành Lục Niên, nhà thơ nhớ tới năm xưa người anh hùng Lê Lợi đã dựng căn cứ nơi đây chống giặc Minh trong sáu năm. Tên của thành là để nhắc mãi thời kỳ gian khổ đó. Đứng trước di tích, con người thường nẩy sinh nỗi niềm hoài cổ, đó là một tình cảm phổ biến, tuy nhiên giá trị của những cảm xúc và suy tưởng về nhân sinh đó không giống nhau. Có người trước sự trường tồn của cảnh vật càng thấm thía sự nhỏ nhoi, vô nghĩa của kiếp người. Cảm xúc và suy tưởng của Nguyễn Thiếp thì khác:
Thập niên khiêu cúc dân vô chủ,
Vạn lý quan hà địa hữu ngư.
(Mười năm gian nan hiểm nguy dân không có chúa,
Muôn dặm núi sông, đất vốn có ngựa hay).
Mười năm là khoảng thời gian từ khi giặc Minh kéo quân sang xâm lược nước ta, phá bỏ thể chế của nhà Hồ, cho đến khi Lê Lợi đứng lên phất cờ khởi nghĩa. Xưa kia nhà nho thường đồng nhất đế vương với quốc gia dân tộc. Thực tiễn lịch sử đã khiến cho La Sơn phu tử có nhận thức khác, đế vương có thể tiêu vong nhưng khí thiêng sông núi trường tồn, truyền thống quật cường của trăm họ luôn tiềm tàng, chỉ cần có người khơi gợi, từ tia lửa nhỏ sẽ bùng lên ngọn lửa lớn thiêu cháy lũ ngoại xâm. Sách vở nhà nho thấm nhuần quan niệm độc tôn đế vương, tất nhiên không dạy điều này. Chân lý lịch sử đó chỉ được nhà chí sĩ cảm nhận thấm thía khi sống giữa vùng địa linh nhân kiệt.
Muốn nói tới một nhân vật thời trung đại chung đúc được những truyền thống tốt đẹp của cả hai miền Nghệ Tĩnh, người xứng đáng nhất được nhắc tới đầu tiên là Mai Thúc Loan. Ông sinh ra ở Thạch Hà (Hà Tĩnh) sau dời ra ở vùng Ngọc Trừng thuộc Nam Đàn (Nghệ An). Đương thời ách đô hộ của nhà Đường vô cùng tàn bạo. Ông đã hô hào dân chúng đứng lên chống lại, sau đó xưng đế và tiến quân ra Bắc. Sự nghiệp của người anh hùng ngắn ngủi nhưng là một vết son chói ngời trong lịch sử vệ quốc của dân tộc, đúng như cổ nhân nói: “không thành công thì cũng thành nhân”. Nguyễn Thiếp có bài thơ Kinh Hắc Đế từ (Qua đền Mai Hắc Đế) dành những vần thơ trang trọng trung tụng bậc hào kiệt, khẳng định tiếng thơm của ông trường tồn cùng núi sông:
Tự Đường hất kim thiên dư tuế,
Kỷ độ tàng thương biến nhân thể.
Cổn cổn Sa Nam cổ độ đầu,
Hành nhân do thuyết Mai Hắc Đế.
(Từ đời Đường đến nay hơn nghìn năm,
Mấy lần dâu bể thay đổi cuộc đời.
Nước chảy cuồn cuộn ở bến đò Sa Nam,
Người đi đường còn nhắc chuyện Mai Hắc Đế).
Nguyễn Thiếp có thời gian làm Huấn đạo (quan coi sóc việc học hành của phủ) Anh Sơn nên với vùng đất và con người Nghệ An, ông không chỉ hiểu biết qua sách vở mà còn qua đợt “đi thực tế” lâu dài. Một lần lên núi Đông Chủ, ngọn núi cao nhất trong dãy Thiên Nhẫn, ngắm nhìn hình thể núi, nhà thơ càng cảm nhận sâu sắc về vùng đất địa linh nhân kiệt:
Trung nghĩa Tống Tất Thắng,
Anh hùng Mai Thúc Loan.
Lô Hoa di miếu tại,
Lam thủy đáo kim hoàn.
Tòng lai danh thắng địa,
Chương Đường giáp ngã Hoa.
(Tống Tất Thắng là người trung nghĩa,
Mai Thúc Loan là bậc anh hùng.
Ngôi miếu còn đó ở Lô Hoa,
Nước sông Lam đến nay còn lạnh buốt.
Xưa nay nổi tiếng đất danh thắng.
(Thì) Thanh Chương Nam Đường kể vào bậc nhất châu Hoan ta).
Nghệ Tĩnh là vùng nước non cẩm tú nhưng cũng là miền đất mà thiên nhiên không ưu đãi con người. Thời Nguyễn Thiếp, cùng với chế độ sưu cao thuế nặng lại loạn lạc, hẳn dân tình càng khốn khó. Nỗi u hoài vì quốc kế dân sinh bàng bạc trong nhiều bài thơ của La Sơn phu tử. Tuy nhiên điều này không khiến con mắt nhà thơ nhìn tự nhiên lệch lạc đi. Nhà thơ thật tự hào khi đứng trước cảnh sông núi hùng tráng của quê hương. Điển hình cho cảm xúc này là ở bài thơ Kim Nhan động (Động Kim Nhan):
Kệ Trường cư huyện sách,
Bình địa khởi Kim Nhan.
Thần bút xung tiêu Hán,
Tiên hồ lạc thế gian.
Long điều giang giới khẩn,
Vạn lý thạch căn bàn.
Thu tận tinh linh khí
An Nam tiểu Thái San.
(Làng Kệ Trường ở huyện sách,
Giữa đất bằng nổi lên huyện Kim Nhan.
Bút thần xông lên tầng mây,
Bầu tiên rơi xuống trần gian.
Hai giải sông áp sát,
Bàn đá dài muôn dặm.
Thu hết khí tinh thiêng,
Núi Thái San nhỏ của An Nam).
Âm hưởng bài thơ thật hào sảng, xứng đáng viết về một kỳ quan. Nhà thơ tự hào tột đỉnh khi gợi ra một danh sơn của Trung Quốc. Người Trung Quốc xếp Thái Sơn vào một trong năm ngọn núi cao nhất (ngũ nhạc) của đất nước bao la này. Theo La Sơn phu tử, đất nước ta nhỏ hơn nhưng cũng có Thái Sơn của mình. Phép so sánh đó ngầm chứa sự tự hào chính đáng.
Nhiều bài thơ của La Sơn phu tử được viết trong thời kỳ ở ẩn nên không tránh khỏi sắc thái yếm thế. Nhìn chung, ta thấy rằng chính tình cảm nhà thơ dành cho quê hương đã nâng đỡ ông, làm cho những vần thơ của La Sơn phu tử có âm hưởng riêng.
Nguyễn Thiếp có bài thơ Phù Thạch phùng lão ngư (Gặp ông lão đánh cá ở bến Phù Thạch) dài 60 câu lưu lại cho chúng ta chân dung một người lao động nơi sông nước của quê hương Nghệ Tĩnh. Bến đò Phù Thạch nay thuộc xã Đức Vĩnh, huyện Đức Thọ. Tại đây Nguyễn Thiếp đã gặp một lão ngư. Họ khác nhau về thân phận mà có nhiều điều cùng tâm đắc. Cũng như phần lớn người lao động xứ này, bộ dạng ông lão biểu thị một kiếp mưu sinh vất vả: Đầu phát tiêu hoàng diện lê hoắc (Đầu tóc vàng sém, mặt đen sạm). Vậy mà trong mắt La Sơn phu tử, người ấy không chút hèn hạ tầm thường, không hề mặc cảm về thân phận mà cách chu đáp thoại như tương thức (cách thuyền trò chuyện như đã từng quen biết). Bộ dạng và khẩu khí ông lão phảng phất phong vị anh hùng Lương Sơn Bạc:
Nhất đái trường giang thâm thủy tam.
Lao Tuyền, Phù Thạch, Long Vương đàm,
Tiện nhân chỉ tác thiển lưu khan.
(Một dải trường giang ba nơi vực sâu.
Lao Tuyền, Phù Thạch, đầm Long Vương,
Tôi chỉ coi như dòng nước nông cạn).
Ông lão hiểu biết, đàm đạo về nhân tình thế thái thật thấu tình đạt lý, gợi ta nhớ đến ông tiều, ông quán của Đồ Chiểu sau này. Bài thơ cho thấy sự cảm thông gần gũi giữa La Sơn phu tử và người bình dân nơi quê nhà.
Nhận định về thơ La Sơn phu tử, nhà bác học Phan Huy Chú đã dành những lời trang trọng: “Thơ đều tao nhã, thanh thoát, lý thú, ung dung, thực là lời nói của người có đức, các tao nhân ngâm khách không thể sánh được”.
Những vần thơ của phu tử viết về con người và quê hương Nghệ Tĩnh cũng biểu hiện những phẩm chất ấy. r
Chú thích:
(1). Văn bản thơ Nguyễn Thiếp và lời dịch nghĩa chúng tôi sử dụng theo sách Thơ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp do Nguyễn Sĩ Cẩn biên soạn, Nxb Nghệ An, 1989. Riêng câu này theo thiển ý nên dịch là Năm năm văn khí thịnh.
(Theo ngheandost – 22.3.2012)

PGs.Ts Nguyễn Văn Phúc: Đảng nên xác định một Bảng giá trị đạo đức của Đảng…

19 Tháng 5

Nguyễn Văn Phúc

VHNA: Nghị quyết TƯ 4(khoá XI) của BCHTƯ Đảng CSVN vừa rồi nhấn mạnh đến nguy cơ suy thoái đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên và hậu quả của nó. Để tiếp cận vấn đề từ các nguyên lý khoa học, chúng tôi đã mời PGS.Ts Nguyễn Văn Phúc, Trưởng phòng Đạo đức học, Viện Triết học làm khách để trao đổi về những vấn đề trên. Chúng tôi trân trọng giới thiệu một số nội dung cuộc trao đổi cùng bạn đọc.

 

Nghị quyết 4 của BCH T Đảng CSVN vừa rồi khẳng định: “ Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”.

Chúng tôi muốn được ông trao đổi từ cách tiếp cận về đạo đức học đối với nhận định trên. Trước hết, tại sao Đảng ta nhấn mạnh nguy cơ nghiêm trọng từ sự suy thoái về đạo đức của cán bộ, đảng viên?

 

Như chúng ta biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh rằng, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Người còn nói, đạo đức là gốc của người cách mạng, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Đảng ta là Đảng cầm quyền, những thành tựu cũng như những hạn chế, khuyết điểm của công cuộc đổi mới gắn liền với  năng lực, bản lĩnh và trước hết là phẩm chất đạo đức của Đảng nói chung và mỗi đảng viên nói riêng.  Bởi thế, khi mà một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, trong đó có cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì đây quả là một tình hình,  một vấn đề cấp bách đối với  công tác xây dựng Đảng, đồng thời cũng là một vấn đề cấp bách  của công cuộc đổi mới hiện nay. Cần lưu ý rằng, sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã được thẳng thắn chỉ ra qua các kì Đại hội và Hội nghị TW kể từ đổi mới đến nay; và Đảng cũng đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm khắc phục, nhưng dường như sự suy thoái vẫn cứ ngày càng trầm trọng thêm. Điều đó cho thấy, tại Hội nghị TW 4 Khoá XI, Đảng nhấn mạnh hơn nữa tính nghiêm trọng của sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên là cần thiết.

 

Theo ông thì bảng giá trị đạo đức của Đảng ta là gì? Nó được xác lập như thế nào, từ lúc nào và gồm những tiêu chí cơ bản nào?

 

Nói đến Bảng giá trị đạo đức là nói đến một Hệ thống những giá trị đạo đức được sắp xếp thành Bảng theo một nguyên tắc nhất định. Theo nghĩa chặt chẽ như vậy, chưa thấy một văn kiện nào xác định một Bảng giá trị đạo  đức của Đảng. Tuy vậy, trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng xác định những yêu cầu, những chuẩn mực  của đạo đức cách mạng. Cụ thể là, khi nói đến tư cách một người cách mạng, Người nói nói đến những yêu cầu qua ba mối quan hệ cơ bản: Đối với mình, đối với người, đối với công việc. Một cách chung nhất, Người nói, Đạo đức cách mạng có thể tóm tắt trong mấy điểm: Trung thành (với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với nhân dân); Dũng cảm (không sợ khổ, không sợ khó); Khiêm tốn (không tự cho mình là tài giỏi). Người cũng nói đến các yêu cầu, các chuẩn mực đạo đức của các tầng lớp trong  xã hội, chẳng hạn: cán bộ, đảng viên, giai cấp công nhân, nông dân, bộ đội, công an, thanh thiếu niên,… Đối với cán bộ, đảng viên, Người nhiều lần nhấn mạnh các yêu cầu: Trung thành và ra sức phấn đấu cho lí tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng, cho Tổ quốc, nhân dân; Để thực hiện lí tưởng cách mạng, mỗi đảng viên cần có những phẩm chất, những đức tính cơ bản: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công, vô tư. Đó là những yêu cầu cốt lõi của đạo đức cách mạng. Cụ thẻ hoá và thống nhất với tư tưởng của Người, Đảng diễn đạt những yêu cầu đạo đức đối với đảng viên trong Điều lệ Đảng, theo đó, người đảng viên: Đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân…; Tuyệt đối trung thành với mục đích lí tưởng cách mạng của Đảng…; Không ngừng học tập nâng cao kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng…;Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân…;Tham gia xây dựngvà bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng,…Tại Hội nghị TW5 Khoá VIII, Đảng đã xác định những đức tính (5 đức tính chung, cơ bản) của con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới cần được xây dựng vừa như mục tiêu vừa như động lực của sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo tôi, những yêu cầu, những đức tính đó cũng chính là những giá trị đạo đức cơ bản của Đảng hiện nay. Bởi lẽ những yêu cầu, những chuẩn mực đó khi định hướng cho hoạt động của Đảng cũng như của mỗi đảng viên thì hiện diện như là những giá trị đạo đức.

Bảng giá trị, hay hệ giá trị đạo đức đó trong tương quan với bảng giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc? Nó có những gì khác và tiến bộ hơn?

 

Tôi nghĩ rằng, những nội dung được xác định dưới dạng những nhiệm vụ của đảng viên và những đức tính của con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới có thể được coi là những giá trị đạo đức cơ bản của Bảng hoặc Hệ thống giá trị đạo đức của Đảng (xin tạm gọi như vậy). Vì trên thực tế, chúng đang được sử dụng như là nội dung cơ bản của giáo dục đạo đức trong Đảng (và cho toàn xã hội đối với 5 đức tính của con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới), cũng như trên thực tế, chúng đang giữ vai trò định hướng giá trị cho hoạt động của mỗi đảng viên. Tuy nhiên, đó chưa phải là một Bảng giá trị đạo đức theo nghĩa chặt chẽ vì nội dung còn những chỗ trùng lặp. Bởi vậy, để làm cơ sở cho định hướng giá trị, Đảng nên xác định một Bảng giá trị đạo đức của Đảng theo nghĩa chặt chẽ với những chuẩn mực, những giá tri cơ bản và sắp xếp theo một trật tự nhất định. Tuy vậy, với những nội dung như hiện nay, Bảng giá trị đạo đức  nêu trên chính là sự kế thừa, là sự cụ thể hoá tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh; đồng thời cũng là sự kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Cũng cần phải nói rằng, sự kế thừa trong Bảng giá trị đạo đức này là sự kế thừa mang tính “vượt gộp” nói theo cách nói triết học. Cụ thể hơn, những yêu cầu trong mỗi giá trị đạo đức truyền thống được kế thừa đồng thời được vượt qua, nghĩa là được đổi mới, mở rộng nội dung,được nâng cấp để trở thành thành tố hữu cơ của Hệ thống giá trị đạo đức mới. Chẳng hạn, khi nói đến ý chí tự cường dân tộc  như là sự kế thừa giá trị đạo đức truyền thống thì tự cường trong điều kiện hiện nay, phải thể hiện ý chí phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho việc đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu là những điều chưa có trong giá trị đạo đức truyền thống dân tộc,… Điều đó có nghĩa là, những giá trị đạo đức trong điều kiện hiện nay trong khi vẫn là sự tiếp tục truyền thống chúng đã tiếp cận với  những yêu cầu của xã hội hiện đại và do đó của con người hiện đại, con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.

Tính giai cấp và tính dân tộc trong bảng giá trị đó như thế nào?

 

Tính giai cấp và tính dân tộc trong bảng giá trị đạo đức của Đảng là thống nhất. Bởi lẽ, những giá trị đạo đức nêu trên khi định hướng cho hoạt động của Đảng cũng như của mỗi đảng viên vì lợi ích của Đảng thì cũng có nghĩa là vì lợi ích của dân tộc. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân lao động, của dân tộc. Điều lệ Đảng cũng khẳng định, Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động  và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Đạo đức của mỗi người, của các cộng đồng gắn liền hay là bị chi phối bởi nhu cầu, lợi ích và các động cơ tư tưởng. Các đảng viên của Đảng ta cũng vậy, họ cũng bị chi phối bởi các nhu cầu, lợi ích. Đặc biệt khác trước là nước ta đang trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế, thể chế thị trường. Các đảng viên cũng ở trong dòng chuyển đổi đó, sự dịch chuyển về quan niệm giá trị, tiếp theo là về đạo đức ở họ là tất yếu. Vậy chúng ta cần định hướng giá trị đạo đức đảng viên, lớn hơn là xác lập bảng giá trị đạo đức của Đảng ta như thế nào trong giai đoạn hiện nay để có thể đại diện cho những tiến bộ về đạo đức của dân tộc và thời đại?

C. Mác từng nói rằng, lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp thúc đẩy con người hoạt động. Tuy vậy, trong đời sống thực tiễn, việc thực hiện lợi ích cá nhân của người này có thể phương hại đến lợi ích của người khác, của xã hội. Để đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội, những phương thức điều chỉnh lợi ích trong đó có đạo đức đã xuất hiện. Đạo đức chính là phương thức giải quyết quan hệ giữa lợi ích  cá nhân với lợi ích xã hội một cách tự giác và tự nguyện, là con đường “làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt  phù hợp với lợi ích của toàn thể loài người” ( Mác). Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn này một cách phổ biến  là cả một quá trình gắn liền với  sự vân động và phát triển của lịch sử loài người nói chung, của mỗi dân tộc nói riêng.  Mỗi cá nhân khi gia nhập vào đội ngũ của Đảng đều đã tự nguyện coi lợi ích của Đảng, của giai cấp và của dân tộc cao hơn lợi ích cá nhân.  Tuy nhiên, việc đặt lợi ích của giai cấp, của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân không có nghĩa là phải hi sinh lợi ích cá nhân một cách tuyệt đối trong hoàn cảnh không đòi hỏi sự hi sinh như vậy. ổnong những điều kiện nhất định, sự thực hiện lợi ích cá nhân một cách chính đáng (nghĩa là lợi ích này không đối lập theo nghĩa tách rời và loại trừ lợi ích xã hội) thì sự thực hiện lợi ích cá nhân  cũng chính là thực hiện một phần lợi ích xã hội. Hơn thế, mỗi đảng viên, ngoài tư cách đảng viên, họ còn là một con người, một cá nhân với những nhu cầu và lợi ích riêng chính đáng. Kinh tế thị trường vốn khuyến khích lợi ích cá nhân. Nhưng một thị trường hiện đại, văn minh, đặc biệt là thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ khuyến khích những lợi ích cá nhân chính đáng. Bởi thế, việc xây dựng và hoàn thiện Bảng giá trị đạo đức của Đảng trong giai đoạn hiện nay cần và có thể dựa trên nguyên tắc kết hợp hợp lí lợi ích cá nhân chính đáng của đàng viên với lợi ích chung của Đảng,của giai cấp, của dân tộc. Chính sự đổi mới đất nước trên cơ sở kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi và tạo ra những điều kiện  cho phép sự kết hợp đó. Trên thực tế, quá trình xác lập Bảng giá trị  đạo đức của Đảng đã và đang được thực hiện theo nguyên tắc đó. Một sự kết hợp mang tính định hướng như vậy sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy đảng viên phấn đấu cho lí tưởng của Đảng, lí tưởng có sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, lí tưởng xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh; trong đó mỗi con người, mỗi cá nhân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Chính điều đó sẽ làm cho Bảng giá tri đạo đức của Đảng có thể đại diện cho những tiến bộ về đạo đức của dân tộc và thời đại.

Đạo đức của là hệ quả trực tiếp của các bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, và văn hóa cụ thể. Bởi vậy đạo đức mang dấu ấn của mỗi thời. Song mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc lại kết tinh từ trong trường kỳ lịch sử của mình những giá trị cốt lõi, trở thành truyền thống, bản sắc của dân tộc. Thep ông thì các giá trị cốt lõi của truyền thống đạo đức người Việt là gì và nó tồn tại như thế nào trong điều kiện cụ thể hiện nay?

 

Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc đã được nhiều học giả có tên tuổi tìm hiểu và hệ thống hoá.  Những giá trị đó cũng đã được Đảng ta hệ thống hoá và diễn đạt  như sau: “Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lí, đức tính cần cùa sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…”. Những giá trị này là cội nguồn, cơ sở. đồng thời là yếu tố cấu thành Bảng giá trị đạo đức của dân tộc Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, vì đạo đức mang tính thời đại, mà thời đại ngày nay có những yêu cầu mới nên các giá trị đạo đức truyền thống chỉ có thể gia nhập vào Hệ giá trị đạo đức mới  khi chúng được đổi mới, nâng cấp để đáp ứng yêu cầu của dân tộc trong thời đại  hiện nay.

Nếu tiếp cận vấn đề từ đạo đức học, xã hội học thì phải tìm căn nguyên trong sự vận động kinh tế – xã hội của đất    nước. Có nghĩa là phải nghiên cứu, giải quyết về vấn đề lợi ích, nhu cầu để trên cơ sở đó định hướng giá trị đạo đức, trong đó có đạo đức của đảng viên, và  thể chế hóa bằng các công cụ pháp lý. Theo ông, hệ thống các giải pháp khắc phục mà Nghị quyết 4 đề ra, nếu thực hiện nghiêm túc, có thể giải quyết được vấn nạn thoái về đạo đức của cán bộ, đảng viên hay chưa? Tại sao?

 

Hệ các giải pháp mà Hội nghị TW4 Khoá XI đề ra là Hệ thống giải pháp nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới. Trên bình diện đạo đức, đó cũng là Hệ thống giải pháp nhằm tạo ra chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng đạo đức của Đảng hiện nay. Bởi lẽ, đạo đức không phải là lĩnh vực  độc lập một cách tách rời mà thẩm thấu và thể hiện  trong toàn bộ hoạt động của Đảng và đảng viên. Những giải pháp mà Hội nghị đề ra  dựa trên sự phân tích, đánh giá tình hình và nguyên nhân của công tác xây dựng Đảng thời gian qua; dựa trên sự xác định những vấn đề cấp bách cần thực hiện mà trong đó,  “Đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị , đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lí các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng, là trọng tâm xuyên suốt và cấp bách nhất”. Hệ thống giải pháp đồng thời còn căn cứ vào mục tiêu và phương châm của công tác xây dựng Đảng. Vì vậy, đó là một Hệ thống giải pháp phù hợp, khả thi.

Điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công nghị quyết 4 lần này là gì? Tại sao?

 

Mặc dù khả thi, nhưng Hệ thống giải pháp đó chỉ có thể được thực hiện một cách nghiêm túc và có hiệu quả với điều kiện là bản thân Đảng nói chung, mỗi đảng viên nói riêng, đặc biệt là các cấp  lãnh đạo của Đảng thật sự có quyết tâm thực hiện ; trước hết là tự phê bình và phê bình  một cách mạnh mẽ với tinh thần xây dựng, tinh thần cầu thị. Bởi lẽ, nguyên nhân của sự suy thoái đạo đức, của những thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của dân tộc được Hội nghị xác định chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan, nghĩa là thuộc về con người – đảng viên (bao hàm lãnh đạo) và những cơ chế bất cập hoặc đã trở thành bất cập  cũng do Đảng tạo ra. Chúng tôi  muốn nói rằng, không phải đây là lần đầu tiên, Đảng nói đến suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối  sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, đến việc đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng. Và mặc dù đây không phải là một vấn đề có thể giải quyết trong một sớm, một chiều, nhưng chỉ có sự quyết tâm, đồng tân thực sự thì mới có thể từng bước thực hiện được thành công các giải pháp mà Nghị quyết Hội nghị TW4 Khoá XI đề ra.

Chân thành cảm ơn ông về cuộc trao đổi hôm nay. Chúc ông mạnh khoẻ.

                                                                          Phan Văn Thắng thực hiện

Chín con rồng khuấy động Biển Đông – BS

18 Tháng 5

Chín con rồng khuấy động Biển Đông

Posted by basamnews on 18/05/2012

Financial Times

Chín con rồng khuấy động Biển Đông

Tác giả: David Pilling

Người dịch: Thủy Trúc

Ngày 16-5-2012

Quá nhiều rồng, quá ồn ào”. Đó là lời một học giả Trung Quốc nói về những xích mích liên miên trên Biển Đông, nơi các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đang động chạm với các yêu sách đối kháng của một số nước Đông Nam Á.

Vụ cãi cọ gần đây nhất là với Philippines. Tháng trước, một tàu hải quân Philippines đã cố tìm cách bắt vài tàu Trung Quốc mà theo Philippines là đang đánh bắt cá bất hợp pháp gần một quần đảo tranh chấp. Nhóm đảo này không thể không được biết tới, với hai tên khác nhau: bãi cạn Scarborough theo cách gọi của Philippines, và Hoàng Nham đảo theo cách gọi của Trung Quốc. Tàu hải giám Trung Quốc đã nhanh chóng có mặt tại hiện trường để ngăn chặn, không cho Philippines bắt giữ ai.

Vụ đụng độ trên biển này dẫn tới xa cách về ngoại giao trên bộ. Tuần trước, sau khi các bài xã luận đầy phẫn nộ trên một số tờ báo của Trung Quốc đòi hải quân của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) phải dạy cho Philippines một bài học, thì thậm chí đã có suy đoán rằng Trung Quốc đang chuẩn bị chiến tranh. Bắc Kinh có vẻ như đã rút khỏi cái miệng vực chiến tranh đó. Nhưng Trung Quốc lại làm tổn thương Philippines theo những cách khác. Họ đã để cho những tàu chở chuối chất đống hàng trên bờ cảng biển của họ, đe dọa sinh kế của 200.000 nông dân Philippines. Và các hãng du lịch Trung Quốc thì hủy tua đi Philippines, lấy cớ là để đảm bảo an toàn cho du khách.

Sự bất lực của Manila – không thể bảo vệ cái mà họ coi là quyền chủ quyền rõ ràng của mình – được bộc lộ một cách cay đắng. Năm ngoái, tổng thống Benigno “Noynoy” Aquino đã thừa nhận, khá duyên dáng, rằng nếu nghĩ lực lượng vũ trang thiếu thốn đủ thứ của Philippines muốn đương đầu với Trung Quốc thì cũng giống như nghĩ một vận động viên quyền Anh phải cố gắng thi đấu trong một cái thùng. Vấn đề đối với Philippines, cũng như với Việt Nam – một quốc gia khác chọc giận Bắc Kinh trong câu chuyện Biển Đông – là Bắc Kinh ra yêu sách đòi gần như toàn bộ vùng biển chiến lược. Để đánh dấu vùng biển này, họ tạo ra bản đồ “đường chín đoạn” tai tiếng, trông như một cái lưỡi khổng lồ thè ra, liếm vào bờ biển của các nước láng giềng. Trong mấy năm qua, số các vụ việc xảy ra trên biển đã gia tăng, cho thấy Bắc Kinh đang trở nên liều lĩnh hơn. Năm 2009, tàu Trung Quốc vây một tàu khảo sát của Mỹ, gây ra một trận chiến về ngoại giao với Washington. Năm ngoái, tàu hải giám Trung Quốc va chạm với tàu khảo sát của cả Philippines lẫn Việt Nam. Đối với một số nước, việc Trung Quốc khăng khăng bảo vệ các yêu sách chủ quyền (thái quá) của họ là bằng chứng cho thấy họ đang triển khai một thứ tương tự học thuyết Monroe trong cái ao nhà của họ.

Aaron L. Friedberg, Trường Ngoại giao và các vấn đề quốc tế Woodrow Wilson thuộc ĐH Princeton, trong cuốn sách viết về cái mà ông gọi là “giao tranh Trung-Mỹ giành quyền làm chủ châu Á”, nói rằng Trung Quốc có ba trục chính sách đối ngoại: “tránh đối đầu”, “xây dựng sức mạnh tổng hợp của quốc gia” và “gia tăng tiến bộ”. Việc Bắc Kinh tích lũy dự phòng rất giống với hành động “gia tăng tiến bộ”.

Đó có lẽ là mục tiêu dài hạn của Bắc Kinh. Còn hiện tại, theo một báo cáo tuyệt vời của Tập đoàn Quản lý Khủng hoảng Quốc tế, một cơ quan giải quyết xung đột, đóng tại Brussels, thì thực tế có thể hỗn loạn hơn và nguy hiểm hơn. Điều ấy là bởi vì, sự sinh sôi số lượng các cơ quan – chứ không phải bản thân chính phủ Trung Quốc – có thể đang giãn rộng biên độ chính sách của Trung Quốc. Có chín con rồng đang làm “dậy sóng biển”. Đó là Cơ quan Thực thi Luật Hải quan, Bộ Tư lệnh Thi hành Luật Nghề cá, Cơ quan Quản lý An toàn Hàng hải, Cơ quan Hải giám Trung Quốc, v.v.

“Trò chơi đa cấp đang diễn ra” – Michael Wesley, giám đốc điều hành Viện Chính sách Quốc tế Lowy (một viện chiến lược đóng tại Sydney), nói. Ông cho rằng các cơ quan chồng chéo nhau này có động cơ để duy trì căng thẳng trên Biển Đông, nhằm mục đích thu hút tiền ngân sách.

“Mẹo của trò chơi này là tận dụng việc thi hành luật pháp để ra mặt trong cuộc tranh chấp có quy mô lớn hơn, đó là tranh chấp chủ quyền” – Stephanie Kleine-Ahlbrandt, một trong các tác giả của báo cáo ICG, cho biết.

Bà cảnh báo, cuộc “chạy đua vũ trang” do các cơ quan quản lý biển này tiến hành thậm chí còn nguy hiểm hơn chạy đua vũ trang thật, bởi vì tàu của họ có thể được huy động dễ dàng hơn và họ có những quy định rất mù mờ về việc tham gia.

Ông Wesley thì nói, mục tiêu dài hạn của Trung Quốc là thoát ra khỏi Biển Đông để bước vào một không gian rộng lớn hơn – Thái Bình Dương. Bà Kleine-Ahlbrandt e ngại, đó chỉ còn là vấn đề thời gian, rồi Trung Quốc sẽ làm chủ ngư trường đang tranh chấp, hoặc họ sẽ đi đến việc tấn công tàu Philippines. Khi Đặng Tiểu Bình bảo Bắc Kinh phải che bớt ánh sáng đi, rõ ràng ông không nói tới những con mắt sáng rực của chín con rồng ở Trung Quốc.

Nguồn: Financial Times

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Chuyện hai người lính – TT

18 Tháng 5

Chuyện hai người lính

TT – Năm ấy, khi trở về thăm ngôi trường cũ (Trường THPT Trần Quốc Tuấn, Quảng Ngãi) gặp thầy Trần Đình Trọng (hiệu trưởng, hiện thầy đã nghỉ hưu, một người bị tật ở chân), tôi hơi ngỡ ngàng.

Tôi cứ nghĩ đơn giản: Trần Quốc Tuấn một thời là ngôi trường lớn nhất tỉnh, luôn là niềm tự hào của nhiều thế hệ học sinh xứ Quảng, thầy hiệu trưởng đáng ra phải thật lịch duyệt, phong cách… Biết đâu ý nghĩ ấy về sau đã trở thành một niềm ân hận theo tôi nhiều ngày tháng. Vừa bày tỏ với anh Trần Mỹ – người bạn học của tôi, là giáo viên Trường Trần Quốc Tuấn – anh phản bác ngay: “Không, ông ạ. Thầy Trọng đầy nghị lực, đầy nghĩa tình, xứng đáng lắm với Trường Trần Quốc Tuấn…”. Tôi tìm hiểu và quả là như vậy. Và tôi viết những dòng này như một lời xin lỗi gửi đến thầy.

Đạn bom qua đi, tấm lòng còn lại

Hai người lính trở thành anh em. Nhưng chẳng bao lâu sau, anh Trọng đã phải   thắp một nén nhang nữa: tết 2009, trong một cơn bạo bệnh, anh Sơ đã ra đi khi   vừa qua tuổi 70. Phía sau nén nhang anh Trọng thắp lần thứ hai này không có   nụ cười, chỉ có nước mắt.

Năm 1972, 19 tuổi, anh Trọng ở đội công tác vũ trang tuyên truyền của xã Hành Phước (Nghĩa Hành, Quảng Ngãi) bị thương nặng. “Đêm ấy – anh Trọng kể – tôi xuống địa bàn xã. Bất ngờ một quả mìn nổ…”. Đôi chân anh dường như không còn gì: khớp gối chân trái nát bấy, chân phải tưa tả. Ngay đêm đó, đồng đội đã đưa anh về bệnh xá Tỉnh đội Quảng Ngãi (B25), đóng ở Nghĩa Hành, giáp với núi rừng Minh Long. Anh được gấp rút đưa lên bàn phẫu thuật, nhưng chưa kịp thì cả một góc rừng bốc lửa, nổ tung. Đạn pháo ầm ầm nã đến, như thể nghiền nát, đốt cháy hết mọi thứ. Đêm, bệnh xá phải di chuyển. Anh được đưa đến một dòng suối. Vừa băng qua suối, cả hai người khiêng đều bị thương, không thể tiếp tục đưa anh đi được nữa.

Tối. Núi rừng mịt mù. Mưa lâm râm. Anh nằm ướt mẹp thoi thóp bên dòng suối chờ cái chết đến. Mãi đến khuya hôm sau, anh em ở trạm xá đi tìm thương binh mới tới nơi, tức tốc bế anh lên đặt vào võng. Ngay lúc ấy, bên kia dòng suối, đối phương đang ào ào tỏa ra lùng sục. Biết khó thoát, anh dùng chút sức tàn thều thào với đồng đội: “Các anh đi đi, tôi không sống được đâu, vướng tôi là chết hết”. Tiếng giày đinh mỗi lúc mỗi gần. Đồng đội cương quyết khiêng anh đi, nhưng anh cố van nài rồi dọa: “Các đồng chí làm vậy tôi sẽ chết ngay đây…”. Không còn cách nào khác, đồng đội vội vã treo chiếc võng trên một nhành cây thấp, phủ lên mặt anh một tấm vải dù hoa, choàng lên người anh một tấm tăng rồi cẩn trọng ghi dấu lên một thân cây. Anh nằm đó, một mình, trên chiếc võng lạnh lẽo, thiếp đi, tỉnh lại giữa núi rừng thâm u.

Sáng tinh mơ, anh lại tỉnh dậy. Dù thấy cả bầy giòi lúc nhúc trong những vết thương và hàng nghìn con lèn bay vù vù quanh thân xác mình, dù mưa và máu làm ướt lẹp nhẹp, nhưng “lạ lùng lắm – anh kể – tôi không hề nghe một chút đau đớn nào, thấy tỉnh táo lạ thường”. Anh cảm nhận được cả tiếng con sóc chuyền cành. Anh nghĩ về mẹ, về bè bạn và lòng tràn đầy ước mơ. Nhưng tất cả chỉ trong thoáng chốc, những bước chân giẫm đạp, lùng sục băng qua cây cối, băng qua dòng suối, một toán lính đã phát hiện chiếc võng. Đến bấy giờ anh vẫn còn nhớ như in: “Mơ mơ màng màng, tôi thấy mấy người đến. Một người đến kéo tấm vải dù hoa ra khỏi mặt tôi, bầy lèn bay vù lên. “Nó chết rồi”. Một người hùng hổ cầm nòng súng gí vào người tôi: “Chưa, chưa chết, cho một phát cho rồi”. Một người khác cản: “Thôi, để anh ta tự chết” và kéo mọi người đi”.

Anh lại thiếp lúc nào không biết, khi tỉnh dậy, Trọng thấy trên ngực mình có một chiếc biđông đầy nước và dưới võng có hai bịch gạo sấy. “Trong cơn khát cháy cả ruột gan, chiếc biđông nước ấy đã giúp tôi kéo dài được sự sống, giúp tôi sống…” – anh bùi ngùi nói.

Anh đã sống cho đến khi được các y bác sĩ đưa về trạm xá dựng tạm ở một góc rừng. Anh Cao Bá Chiến (nguyên giám đốc Sở Lao động – thương binh và xã hội Quảng Ngãi, đã nghỉ hưu) hồi ấy cũng đang nằm tại bệnh xá, nhớ lại: “Chi bộ đã họp và quyết định cưa gấp chiếc chân của anh Trọng để cứu lấy mạng sống, dù không còn một chút thuốc tê, thuốc mê”. Tất cả những gì có thể có, kể cả thuốc cá nhân của nhiều đồng đội, đều được gom lại lo cho ca mổ và sự sống của người du kích 19 tuổi. Rồi bệnh xá dựng tạm lại bị đánh đi đánh lại, tan hoang, cháy nát, đồng đội lại bao lần khiêng, cõng anh băng qua đạn bom chuyển đi về nơi xa hơn, cao hơn của núi rừng.

Tháng 5-1974, anh được chuyển ra miền Bắc, được điều trị, được đi học và đến năm 1977 anh thi vào khoa toán Trường đại học Sư phạm Huế, đậu á khoa. Thời đạn bom đã qua, những ngày bình yên ấy anh luôn nghĩ về những viên thuốc, về những nắm cơm, những ngụm sữa của đồng đội dành cho mình, nghĩ về những bờ vai của đồng đội băng qua lửa đạn, và nghĩ về chiếc biđông nước, hai bịch gạo sấy của một người lính đối phương đã để lại trên ngực mình.

Anh là ai, ở đâu?

Rồi một duyên may đã đến… Một hôm, vào năm 2003, bất ngờ anh nhận được điện thoại từ Đà Lạt. Đó là điện thoại của chị Huỳnh Thị Đính, người đồng đội cũ của anh. Giọng người gọi run run và tay cầm điện thoại của người nghe cũng run run: “Gặp được người lính mà Trọng tìm rồi, Trọng ơi”. Mừng rỡ, vừa tan cuộc họp, anh lên Đà Lạt.

Anh Trịnh Hải Vương, chồng chị Đính, hiện là chủ khách sạn Long Vương (đường Nguyễn Chí Thanh, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng), nhớ lại: “Người lính ấy là anh Nguyễn Sơ, lính sư đoàn 2 của chế độ cũ, cũng người Quảng Ngãi, bị thương mất một tay. Năm ấy ảnh đến khách sạn tôi”. Là đồng hương, chủ khách chuyện trò cùng nhau và khách nhắc lại chuyện cũ, trong đó có chuyện mình đã để lại chiếc biđông nước, hai bịch gạo sấy cho một người Việt cộng bị thương nặng nằm trên chiếc võng, sắp chết. Khách đi, anh Vương kể lại với chị Đính. Chị Đính giật mình: “Người Việt cộng đó là Trọng chớ ai”. Anh Trọng đã lên Đà Lạt, nhưng, “Thật tiếc – anh Vương kể – tôi lại vô tình không hỏi kỹ là anh Sơ giờ ở đâu, chỉ nhớ là ảnh nói ở một vùng kinh tế mới đâu quanh đây”.

Tưởng tìm được người ơn, nhưng lại thất vọng. Lòng buồn bã nhưng anh Trọng lại tiếp tục cuộc kiếm tìm. Dù bị thương tật (anh là thương binh 1/4), đi lại khó khăn, anh vẫn thuê xe ôm đến các vùng kinh tế mới có người Quảng Ngãi ở Di Linh, Bảo Lộc, rồi mấy lần lên tận Đắk Lắk. Bây giờ câu hỏi của anh đã có một cái tên: “Có biết anh Nguyễn Sơ, người Mộ Đức, Quảng Ngãi, lính chế độ cũ, mất một cánh tay?”…

Tay nắm lấy bàn tay

Mãi đến năm 2005, trong buổi lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường Trần Quốc Tuấn, thầy hiệu trưởng Trần Đình Trọng xuất hiện trên sân khấu giao lưu. Nhạc sĩ Trần Xuân Tiến, cựu học sinh trường, làm người dẫn chương trình. Ông Tiến kể lại: “Hôm ấy khi nghe thầy Trọng kể câu chuyện chiếc biđông nước, hai bịch gạo sấy của người lính chế độ cũ và cuộc tìm kiếm mấy mươi năm, mình xúc động lắm. Mình rất mong hai người sớm được gặp nhau, nắm được tay nhau”.

Niềm mong ước ấy nào ngờ đã sớm trở thành hiện thực. Sau buổi giao lưu, một cựu học sinh Trần Quốc Tuấn xuất hiện: anh Trịnh Quang Ba, giáo viên Trường tiểu học Phổ Thuận, huyện Đức Phổ (hiện đã nghỉ hưu). Anh báo: “Ôi, tưởng ai xa lạ, người lính ấy là anh Sơ, con bà cô tôi đó mà…”. Ngay đêm đó, anh Trọng đã gọi cho anh Sơ, ở tận Chơn Thành, Bình Phước. Chưa gặp mặt nhưng giữa hai người lính, qua điện thoại, những ngày khói lửa trên chiến trường Quảng Ngãi đã sống lại, chiếc biđông nước và hai bịch gạo sấy giữa hai chiến tuyến cũng hiển hiện mồn một. Đó là lần bệnh xá B25 bị chỉ điểm, đơn vị anh Sơ được lệnh hành quân đến tận nơi. Sau trận đó, năm 1973, cũng tại chiến trường Quảng Ngãi, anh Sơ bị thương, mất một tay, thành thương phế binh. Đến năm 1981, khó khăn quá, anh đưa gia đình vào tận Chơn Thành, Bình Phước tìm kế mưu sinh.

Ngay sau đó anh Trọng đón xe đi Bình Phước. Đó là một giờ phút thật đặc biệt, dĩ nhiên, phút gặp lại của hai con người mà trước đó 35 năm đều là lính, mỗi người một chiến tuyến. Anh Trọng, người thương binh mất một chân, nắm lấy bàn tay còn lại của anh Sơ, người thương phế binh mất một tay. Bàn tay lẽ ra 35 năm trước đã bóp cò khẩu súng đang chĩa vào anh, nhưng không, bàn tay ấy đã len lén, sè sẽ lấy chiếc biđông nước, hai bịch gạo sấy và len lén, sè sẽ đặt lên người anh, người thương binh nằm trên chiếc võng chờ chết giữa rừng. Nắm tay nhau, rồi hai người lính ôm nhau, mừng cười mà nước mắt lại rơi.

Lúc ấy có một người phụ nữ đứng phía sau cũng khóc, là chị Võ Thị Ba, vợ anh Sơ. Sau giây phút bùi ngùi đó, anh Trọng đã xin phép anh chị Sơ gửi một chỉ vàng làm quà kỷ niệm và xin được làm một mâm cơm cúng gia tiên. Thắp một nén nhang, trong hương khói thiêng liêng, anh Trọng đứng cùng với vợ chồng anh Sơ, khấn: “Từ nay, con xin được làm người con, người em trong gia đình”.

Ký ức bịch gạo sấy

Có gì đâu chiếc biđông nước, bịch gạo sấy, ấy vậy mà nó cứ theo   anh qua năm tháng, từ cái buổi sáng ấy mãi đến khi anh về làm giáo viên toán,   rồi làm hiệu phó, hiệu trưởng Trường Trần Quốc Tuấn. Không biết bao nhiêu lần   Trọng tự hỏi: “Người lính ấy là ai? Giờ còn hay mất?”. Anh tâm nguyện còn   sống là còn tìm kiếm con người ấy để nói lời thọ ơn cứu tử. Bao nhiêu năm anh   nói về cái ơn ấy với nhiều người quen thân, với mong ước dò la, kiếm tìm   người lính bên kia chiến tuyến đã dũng cảm mở lòng cứu một người lính bên này   chiến tuyến. Dẫu vậy, năm tháng trôi qua, đã có lúc anh dường như tuyệt vọng   vì thông tin quá sức ít ỏi, lấy đâu mà tìm?

HÀNG CHỨC NGUYÊN

Đâu là chiếc đũa thần chống tham nhũng – VHNA

18 Tháng 5

 

Đào Tuấn

Lương không bao giờ là chiếc đũa thần chống tham nhũng bởi một lẽ rất đơn giản: Không ai vì nghèo mà tham nhũng cả.

Ban chỉ đạo TƯ về PCTN sẽ trực thuộc Bộ Chính trị, do trực tiếp Tổng bí thư làm Trưởng ban. Tái lập Ban Nội chính TƯ, cơ quan thường trực của BCĐ. Không thành lập BCĐ tỉnh, thành phố mà tỉnh ủy, thành ủy sẽ trực tiếp lãnh đạo công tác phòng, chống tham nhũng.  Đây là những quyết định quan trọng vừa được quyết định tại Hội nghị lần thứ 5 BCH TƯ Đảng vừa bế mạc sau 9 ngày họp.

Hội nghị TƯ 5 đã dũng cảm nhìn nhận vào sự thật: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội”. Nhưng đây là những sự thật lặp đi lặp lại, kéo dài năm này qua năm khác. Có quá nhiều nguyên nhân, nhấn mạnh là những nguyên nhân cũ rích. “Chưa quyết tâm lãnh đạo và gương mẫu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; “Những bất cập về thể chế, trong việc ban hành, thực thi luật pháp, cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế – xã hội; Những “sơ hở, bất cập, thiếu công khai, minh bạch, tình trạng “xin – cho”; “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… Nguyên phó tổng Thanh tra Chính phủ ông Vũ Phạm Quyết Thắng nói trên Tuổi trẻ rằng mô hình Ban chỉ đạo hiện nay vẫn còn mang tính chất hành chính trong hoạt động. Dường như “tính chất hành chính” chỉ là một cách nói. Bởi sự nghiêm trọng và phổ biến của tham nhũng cho thấy nguyên nhân quan trọng nhất là sự bất lực của bộ máy phòng chống tham nhũng. Vì vậy, sự độc lập tương đối khi BCĐ trực thuộc Bộ Chính trị và việc BCĐ ở địa phương tách khỏi cơ quan hành chính có vẻ là “chìa khóa” nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng. Thực ra, việc tách BCĐ ra khỏi hành pháp thực ra đã được Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh đề xuất tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ QH tháng 10-2011. Tổng Thanh tra dẫn ý kiến đề xuất của 40-50% số địa phương” cho rằng chống tham nhũng nên “tách hẳn với hoạt động quản lý, điều hành…”. Bởi nếu vừa hoạt động, điều hành, vừa chống tham nhũng từ chính các hoạt động, điều hành có khác gì “vừa đá bóng, vừa thổi còi”! Tuy nhiên, sự độc lập không phải là tất cả, như TBT Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Không phải cứ lập BCĐ là xoay chuyển ngay được tình hình như “một chiếc đũa thần”. Vậy thì đâu là “chiếc đũa thần” cho công tác phòng chống tham nhũng? Nhiều người đã nói đến liều thuốc “Lương đủ sống”. Chính Hội nghị TƯ lần này cũng đã nhấn mạnh phải “tạo bước đột phá trong việc tạo nguồn, bảo đảm cho cải cách tiền lương” bởi “chi tiền lương là chi cho đầu tư phát triển, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ và minh bạch hóa các quan hệ xã hội”. Tuy nhiên, lương không bao giờ là chiếc đũa thần chống tham nhũng bởi một lẽ rất đơn giản: Không ai vì nghèo mà tham nhũng cả. Còn nhớ năm ngoái, khi một quan chức ở Cần Thơ tổ chức đám cưới cho con với dòng chức danh Phó BCĐ tham nhũng ghi to đoành trong thiệp cưới, có tờ báo dẫn lời “tân khách” là một doanh nghiệp nói rằng: Không thân thiết với gia đình ông này lắm, nhưng thấy dưới tên cán bộ ghi chức danh quá to nên “cả nể” đi dự tiệc. Còn ông Phó Ban, giải trình về đám cưới hơn trăm ô tô đậu kín sân, khách mời ngồi kín sảnh 90 bàn, và về dòng chức danh trên thiệp cưới đã đổ phắt cho “con cháu ở nhà” tổ chức in thiệp đã để luôn tên và chức danh của ông còn ông chỉ “in chức danh ở một số thiệp gửi mời cán bộ”. Phó chánh văn phòng Thường trực Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng Phạm Anh Tuấn có lần đã nói đại ý: Cái nguy hiểm nhất là xã hội bình thường hóa, chung sống hòa bình với tham nhũng. Ông đòi hỏi: Ngay trong nội bộ các cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng phải biết dị ứng với cái đó. Chiếc đũa thần, nếu có, không phải là Ban chỉ đạo nằm ở đâu, có độc lập hay không, cũng khó có thể đòi hỏi “lương tâm và trách nhiệm” của những người có quyền chức, phải là thái độ xã hội, phải bắt đầu bằng sự quyết liệt của cơ quan phòng chống tham nhũng và phải từ một cơ chế cần có để người dân có thể giám sát.

Nguồn: blog Đào Tuấn

Hai bài thơ của Nguyễn Khản vừa phát hiện

18 Tháng 5

Nguyễn Thanh Tùng

Nói đến gia thế đại thi hào Nguyễn Du 阮 攸 (1765 – 1820), bên cạnh người cha tài năng, uy quyền – Nguyễn Nghiễm 阮 儼 (1708 – 1776) – chúng ta thường đề cập người anh trai cùng cha khác mẹ rất thành đạt, phong lưu mà cũng không kém phần “đa tài, đa nghệ” là Nguyễn Khản 阮 侃 (1734 – 1786)(1).

Riêng về lĩnh vực văn học, Nguyễn Khản được biết đến như một tác giả tài hoa, sáng tác nhiều thơ phú, đặc biệt giỏi về thơ, ca quốc âm(2). Thế nhưng hiện nay sáng tác của Nguyễn Khản còn lại không nhiều. Chúng ta được biết đến một trong bảy bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc hiện tồn có nhiều khả năng của Nguyễn Khản(3). Chúng ta cũng đã tìm ra một bài thơ Nôm được Nguyễn Khản đề ở Đền Và, Sơn Tây(4), mấy câu thơ Nôm đối đáp với Trịnh Sâm(5) và 2 bài phú Nôm (Thuật hoài phú, Đan thư thiết khoán phú)(6). Số lượng tác phẩm ít ỏi đó không đủ thoả mãn sự tò mò của chúng ta về văn tài của Nguyễn Khản. Vì vậy, việc sưu tầm, phát hiện các tác phẩm của Nguyễn Khản là một việc làm cần thiết để đánh giá rõ hơn vị trí của ông trên văn đàn. Góp phần vào công việc đó, chúng tôi xin cung cấp thêm một (mà lại là hai) tác phẩm mới của Nguyễn Khản.

Đó là bài thơ Nguyễn Khản họa thơ Nguyễn Huy Oánh 阮 輝 瑩 (1713 – 1789) nhân dịp vị Thám hoa này theo lệ về trí sĩ rồi được khởi phục vào năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780). Những bài thơ này được chép trong sách Nguyễn thị gia tàng (Sách lưu giữ trong nhà họ Nguyễn)(7) hiện được con cháu dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu cất giữ (với 2 dị bản tạm gọi là A và B). Nguyên văn bài thơ chữ Hán của Nguyễn Huy Oánh như sau:

濫 階 第 一 玷 清 班,

守 拙 區 區 卅 載 間.

萬 里 歸 駢 憑 厚 庇,

七 旬 解 組 竊 餘 閒.

凡 資 幸 遂 群 麋 鹿,

雅 範 弥 深 景 鳳 鸞.

頂 踵 此 生 全 聖 澤,

億 年 僅 囑 壽 南 山.

Phiên âm:

Lạm giai đệ nhất điếm thanh ban,

Thủ chuyết khu khu táp tải gian.

Vạn lí quy biền, bằng hậu tí.

Thất tuần giải tổ, thiết dư nhàn.

Phàm tư hạnh toại quần mi lộc,

Nhã phạm di thâm cách phượng loan.

Đính chủng thử sinh toàn thánh trạch,

Ức niên cận chúc thọ Nam San.

Dịch nghĩa

Lạm dự vào bậc hàng đầu, làm nhơ chốn cung thất(8),

(Thế mà) khư khư giữ sự vụng về trong vòng ba mươi năm trời.

Quay cỗ xe vạn dặm trở về được, là nhờ ơn trên sâu dày,

Bảy mươi tuổi về nghỉ hưu, trộm có chút nhàn thừa.

Bạn bầy với lũ hươu nai(9), cũng may toại được tư chất bình thường,

Hâm mộ bầy loan phượng(10), thì càng làm sâu thêm khuôn phép nhã nhặn.

Đời này, cả tấm thân(11) đều nhờ ơn thánh chúa,

Xin chúc bề trên muôn tuổi tựa Nam Sơn(12).

Dịch thơ:

Lạm vào hạng nhất ghé thanh ban,

Giữ vụng muôn ngày giữa thế gian.

Trọn vẹn sứ trình, ơn chúa nặng,

Thôi quan dưỡng lão, trộm khi nhàn.

Đứng hàng dân dã, gần nai hoẵng,

Mến bạn thanh tao, giáp phượng loan.

Tất thảy đời này ơn thánh cả,

Thọ trên xin chúc tựa Nam San.

Nguyễn Khản họa lại như sau:

王 朝 等 列 共 聫 班,

德 且 年 尊 達(13) 世 間.

黄 點 菊 纏 花 几 凈,

粉 粧 梅 戲 月 窻 閒.

香 樓 瑞 占(14) 都 麟 鳳,

紫 閣 書 傳 合 鵲 鸞.

張 弛 理 明 推 吏 隱,

堂 堂 本 體 道 羅 山.

Phiên âm

Vương triều đẳng liệt cộng liên ban,

Đức thả niên tôn đạt thế gian.

Hoàng điểm cúc triền hoa kỉ tịnh,

Phấn trang mai hí nguyệt song nhàn.

Hương lâu thuỵ chiếm đô lân phượng,

Tử các thư truyền hợp thước loan.

Trương thỉ lí minh suy lại ẩn,

Đường đường bản thể đạo La Sơn.

Dịch nghĩa

Hàng hàng quan lại trong triều họp thành các ban,

Ông đức và tuổi đều tôn quý, có thể gọi là “đạt” trong đời.

Khóm cúc điểm vàng, ghế hoa sạch sẽ,

Nhành mai rắc phấn, song trăng nhàn nhã(15).

Lầu hương bói được điềm lành, là nơi tụ tập của lân phượng,

Gác tía truyền dạy sách vở, hội họp các loài chim loan, chim thước(16).

Căng hay chùng cái lí đã rõ, giục giã kẻ ẩn dật chốn quan trường(17),

Cái đạo ở La San(18) quả có gốc rễ bề thế, vững vàng.

Dịch thơ

Từng hàng quan lại họp thành ban,

Đức trọng tài cao, hiển thế gian.

Khóm cúc điểm vàng, lưng ghế nhẵn,

Nhành mai rắc phấn, cửa trăng nhàn.

Lầu hương điềm tốt, mời lân phượng,

Gác tía điều hay, đón thước loan.

Căng trũng lẽ rành, xui khách ẩn,

Vững vàng đạo thể ấy La San.

Thựa ra, bài thơ của Nguyễn Khản chỉ là một trong tổng số 76 bài thơ của triều thần nhà Lê họa lại thơ của Nguyễn Huy Oánh. Trong đó, có nhiều bài thơ của những tể thần, danh sĩ đương thời như Trịnh Kiều (? – ?), Lê Quý Đôn (1724 – 1783), Ngô Thì Sĩ (1726 – 1780), Phạm Nguyễn Du (1739 – 1786), Hoàng Tố Lí (1743 – 1782), Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), Phan Huy Ích (1751 – 1822),… Trong đó, có những bài thơ họa của những người thân của ông Thám hoa như em trai Nguyễn Huy Quýnh (1734 – 1786), con trai Nguyễn Huy Tự (1743 – 1789),… rồi những học trò của Nguyễn Huy Oánh như Phạm Nguyễn Du, Phạm Trọng Huyên (? – ?),… Bài thơ của Nguyễn Khản cũng có thể được xếp vào số những bài thơ họa của người thân Nguyễn Huy Oánh bởi ông chính là thông gia của gia đình ông Thám hoa (con gái ông là Nguyễn Thị Bành (1750 – 1773), Nguyễn Thị Đài (1752 – 1819) lấy Nguyễn Huy Tự; hai gia đình lại có quan hệ qua lại, thông gia lâu đời,…). Tuy nhiên, điều đó cũng không có gì quá đặc biệt ảnh hưởng đến bài thơ, bởi nó cũng chỉ là một bài thơ mang tính chất nghi thức, thù tạc, tụng ca như những bài thơ họa khác. Cái đặc biệt của bài thơ nằm ở cách viết, cách chơi thơ. Ở đây, Nguyễn Khản đã sử dụng kiểu chơi thơ “thuận nghịch độc” (nghĩa là đọc xuôi đọc ngược). Hơn thế nữa, kiểu “thuận nghịch độc” này áp dụng trong hoàn cảnh song ngữ Hán – Nôm. Cụ thể, ở bài thơ này, ông đã sử dụng kiểu “thuận nghịch độc” như cước chú của bài thơ là “Đọc thuận là bài thơ Đường luật, đọc nghịch là bài thơ quốc âm” (順 用 唐 律 逆 用 國 音). Theo đó, bài thơ đọc xuôi thì được bài thơ chữ Hán chỉnh tề, trang nhã như trên; còn đọc ngược thì ta được bài thơ quốc âm cũng không kém phần tề chỉnh, tao nhã. Bài thơ tạm được phiên âm như sau:

Sơn là đạo thể vốn đường đường,

Ẩn lại suy minh lẽ thỉ trương.

Loan thước họp, truyền thư gác tía,

Phượng lân đua, chiếm thụy lầu hương.

Nhàn song nguyệt hé, mai trang phấn,

Tạnh cửa hoa chen, cúc điểm vàng.

Gian thế đạt tôn nên thả đức,

Ban liền cùng liệt đấng triều vương.

Bài thơ Nôm có nội dung cũng không ra ngoài mục đích chúc tụng của Nguyễn Khản dành cho Nguyễn Huy Oánh. Âm luật bài thơ tề chỉnh, ngôn ngữ trau chuốt (tuy vẫn bài thơ có khá nhiều vài từ Hán Việt không được “thuận tai” người đọc hiện đại cho lắm, nhưng lại không có gì xa lạ với người trung đại). Đặc biệt, bài thơ Đường luật, nhưng hai câu thực lại được ngắt nhịp 3/4 như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,… từng làm khiến cho bài thơ có được ấn tượng gần gũi với khẩu ngữ hơn.

[Hai] bài thơ của Nguyễn Khản mới phát hiện cho thấy Nguyễn Khản là một nhà thơ Hán – Nôm tài hoa, chuộng dùng thơ văn như một thú chơi tao nhã, một ngón nghề công phu, đồng thời có ý thức trổ tài, “khoe tài”. Mặt khác, với những tác phẩm còn lại của Nguyễn Khản, bước đầu ta có thể hình dung ra một phong cách thơ văn Nguyễn Khản, đó chủ yếu là loại thơ văn đài các, thù tạc, yến ẩm, hoa mĩ,… phục vụ cho sự nghiệp chính trị và cuộc sống hưởng thụ phong lưu nhất thời của ông. Điều đó phù hợp với những ghi chép của người đương thời và đời sau về ông (đặc biệt là ghi chép của Phạm Đình Hổ). Nó cũng góp phần lí giải nguyên nhân vì sao dù được sáng tác nhiều nhưng tác phẩm của Nguyễn Khản được truyền đến ngày nay khá ít. Phải chăng, “văn vận” kém phần may mắn đó đã “bỉ sắc tư phong” với cuộc đời phong lưu bậc nhất của ông?.

 

 

Chú thích:

(1) Nguyễn Thanh Tùng, “Các nhân vật họ Nguyễn Tiên Điền với âm nhạc Thăng Long – Hà Nội (thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX)”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học Đại thi hào Nguyễn Du và các danh nhân dòng họ Nguyễn Tiên Điền với Thăng Long – Hà Nội, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2011, tr.569-590.

(2) Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nguyễn Đức Vân, Kiều Thu Hoạch dịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1984, tr.63; Phạm Đình Hổ, “Nhà họ Nguyễn Tiên Điền”, Vũ trung tùy bút, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1989, tr.156-157.

(3) Hoàng Xuân Hãn, Chinh phụ ngâm bị khảo, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1993, tr.23; Thế Anh, Về bản dịch Chinh phụ ngâm của Nguyễn Khản, Thông báo Hán Nôm học năm 2008, Hà Nội, 2009.

(3) Nguyễn Xuân Diện, “Nguyễn Khản đề thơ ở đền Và”, Tạp chí Hán Nôm, số 4 năm 1993.

(4) Nguyễn Xuân Diện, Đinh Thanh Hiếu, “Về năm bản nhạc chương Nôm đời Lê”, tạp chí Hán Nôm, số 4 năm 2000.

(5) Phạm Đình Hổ, “Nhà họ Nguyễn Tiên Điền”, Vũ trung tùy bút, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1989, tr.156-157.

(6) Phan Văn Các, Trần Ngọc Vương (đồng chủ biên), Di sản văn chương Văn Miếu Quốc Tử Giám, Nxb. Hà Nội, 2010.

(7) Nguyễn Huy Vinh (biên tập), Nguyễn thị gia tàng (bản A và B), cuối thế kỉ XVIII, bản thảo được cung cấp bởi ông Nguyễn Huy Mỹ.

(8) Nguyên văn “Thanh Ban”, tên một cung điện quý. Thơ Tô Đông Pha thời Tống có câu: “Ngã hoài Nguyên Hựu sơ, Khuê chương mãn Thanh Ban” (Ta nhớ năm đầu thời Nguyên Hựu; Ngọc khuê chương đầy cung Thanh Ban). Khuê chương lại là hai thức ngọc quý chỉ nhân phẩm. Kinh Thi ví người “như khuê, như chương”. Đây dùng nói chung cho cung khuyết (dẫn theo Lại Văn Hùng). “Thanh ban” cũng chỉ phẩm loại, ban loại thanh cao, quý trọng.

(9) Hươu, nai: chỉ cuộc sống ẩn dật nơi núi rừng.

(10) Phượng loan: chỉ những bậc anh tài được giáo dưỡng.

(11) Nguyên văn “Đính, chung” (từ đầu đến gót). Nhậm Phương đời Hậu Hán có câu: “Tự đính chí chung; Công quy tạo hóa” (Từ đầu đến gót, đều do công của tạo hóa mà thành), (dẫn theo Lại Văn Hùng).

(12) Bài Thiên bảo trong Kinh Thi có câu: “Như Nam Sơn chi thọ, bất khiên bất băng” (Sống lâu bền vững như núi Nam, không mòn không lở). Người xưa cũng thường nói “thọ tỉ Nam Sơn” (thọ tựa núi Nam).

(13) Bản A: nhiễu (遶)

(14) Bản B: điểm (点)

(15) Hai câu thực chỉ cảnh trí sĩ, ẩn dật với những hình ảnh quen thuộc như cúc, mai, song trăng, ghế hoa.

(16) Hai câu luận chỉ việc dạy dỗ học trò.

(17) Nguyên văn “lại ẩn” (kẻ ẩn chốn quan trường). Theo Sử kí, Đông Phương Sóc thời Hán làm quan đến chức Đãi chiếu Kim mã môn, có người bảo ông rằng: người ta đều nói ông là cuồng sĩ. Đông Phương Sóc đáp: Dạng người như ta, là loại trốn đời nơi triều đình, không giống với người xưa trốn đời trong núi rừng. Liền đó uống rượu say, chống đất mà ca rằng: “Chìm nổi chốn thế tục, trốn đời nơi quan trường. Nơi cung điện có thể bảo toàn tấm thân trốn đời, hà tất phải trốn đời trong rừng núi, dưới cây lau cây sậy”.

(18) La San: tức La Sơn, tên huyện, trong huyện La San có tổng Lai Thạch, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh), quê Nguyễn Huy Oánh.