TRAO ĐỔI VỚI NHÀ VĂN LẠI NGUYÊN ÂN XUNG QUANH BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG CỦA GIANG NAM – BS

10 Tháng 6

Thật thú vị khi bài viết “Một góp ý nhỏ về bài thơ Quê hương của Giang nam” đề nghị bỏ đi khổ thứ 5 trong bài thơ, đã có ý kiến phát biểu quan điểm của mình của anh Lại Nguyên Ân (LNA). Trong comment dưới bài viết nhà văn LNA nêu câu hỏi: “Tác giả bài viết cho rằng trong bài thơ “Quê hương” nên bỏ khổ thơ thứ 5 đi, “bởi tiếp sau thời gian “hoà bình” lại nhận được “sự mất mát hy sinh” là không logich” (?).
Xin hỏi Võ Ngọc Thọ muốn nói đến thứ logic nào?
Và có logic nào lớn hơn logic của sự thật lịch sử?
Và diễn giải rằng đây là bài thơ viết TRONG CHIẾN TRANH, mà là chiến tranh cụ thể ở VN; có chiến tranh (= kháng chiến 9 năm, 1946-54) rồi hòa bình (hiệp định Geneva, 1954, chia VN ra 2 miền), rồi lại chiến tranh (= “chống Mỹ cứu nước”, 1955-75). Thời hiện tại trong bài thơ là cuộc chiến tranh kể sau (= “chống Mỹ cứu nước”).

Trước hết, đây là bài thơ viết về lòng yêu quê hương gắn với một mối tình nam nữ từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành trong thời chiến tranh ly loạn chứ không phải là “một bài lịch sử bằng thơ” nên không cần phải tuân thủ theo “logic của sự thật lịch sử” như LNA nói.

Khi đọc một bài thơ, người đọc sẽ đắm chìm trong trường liên tưởng của “không gian bài thơ” được tác giả dựng nên. Nên logic mà VNT muốn nói đến chính là “nhịp đập” của thơ trong bài.

Sau đó nhà văn LNA viết tiếp:

Bài thơ có trật tự thời gian như sau:
1/ Quá khứ 1: Thời gian TUỔI THƠ: “Tôi” chăn trâu, bỏ trâu bắt bướm, bị mẹ bắt, chưa đánh đã khóc; “cô bé nhà bên” nhìn, cười khúc khích;
2/ Quá khứ 2: Thời gian đầu “cách mạng”, “kháng chiến”:
“tôi” đi (= vào bộ đội, làm cán bộ…); “cô bé nhà bên” vào du kích; gặp nhau, vẫn thấy cô “cười khúc khích”; “tôi” vương vấn…

3/ Quá khứ 3: Thời gian hòa bình (sau hiệp định Geneva, 1954): “tôi” về làng, gặp lại “cô bé nhà bên”, cô vẫn “cười khúc khích”, “tôi” hỏi chuyện chồng con, “Cô: khó nói lắm!”, “tôi nắm tay, cô để yên trong tay tôi…”

4/ HIỆN TẠI (trong “chống Mỹ cứu nước”, những năm 1960): “tôi” nhận được tin: em bị giặc giết, quăng mất xác, vì em là du kích; “tôi” đau, và thấy thêm nghĩa của sự yêu quê hương: vì trong đất quê hương có phần xương thịt của em.
Vậy là có tới 3 đoạn quá khứ xa gần được nhắc lại ở bài thơ, đoạn nào cũng có nghĩa. Nếu bỏ khổ thơ thứ 5 thì sẽ không có việc “tôi” và “em” như 2 người nam nữ đã lớn, nảy sinh tình cảm với nhau, nên sự đau xót tiếc thương ở đoạn cuối sẽ giảm hẳn; chỉ còn quá khứ tuổi thơ, “tôi” bị mẹ dọa đánh phát khóc, bị “cô bé nhà bên” cười cho mà thôi.
Để ý đến 3 đoạn quá khứ được nhắc đến trong bài thơ, bạn sẽ thuộc thêm các sự kiện sử Việt nữa. Sao lại muốn bỏ một đoạn thơ đi, đồng thời làm mất cả ký ức lịch sử được gắn vào xúc cảm thơ như thế này?

Xin thưa anh LNA, 3 quá khứ và 1 hiện tại anh nêu trên có lẽ ai cũng biết. Nhưng khi đọc bất cứ 1 bài thơ nào, không ai lại đi tìm hiểu xuất xứ, bối cảnh ra đời của nó rồi mới đọc thơ.

Khổ thơ thứ 3 và 4:

Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi

Cô bé nhà bên (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)
Giữa cuộc hành quân không nói được
một lời…
Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi

Lớn lên, cả hai cùng tham gia kháng chiến, kẻ vào bộ đội, người vào du kích và tình cảm yêu đương đã nảy sinh. Cái “cười khúc khích” của cô gái giờ đã có sự e thẹn, biểu lộ của tình yêu, còn chàng trai thì nhìn cô gái “thương thương quá đi thôi” và “Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại /Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi” . Vì vậy, mặc dù nhìn nhau họ chưa nói nên lời nhưng họ đã tỏ tình bằng mắt. Nếu tinh ý anh LNA sẽ nhận ra điều này. Nếu bỏ khổ thứ 5 sẽ là tạo “một khoảng lặng” của tình yêu và chính điều này sẽ nâng giá trị nghệ thuật của bài thơ lên một bực.

Trong thơ, tác giả có quyền hư cấu bằng những hình tượng nghệ thuật kết hợp ngôn ngữ thơ làm lay động tâm hồn, cảm xúc người đọc, nêu bật cái hay cái đẹp làm tăng giá trị thẩm mỹ của bài thơ.

Bài thơ Màu tím hoa sim, nhà thơ Hữu Loan viết về câu chuyện tình có thật của đời mình. Hình tượng người con gái trong bài chính là cô Lê Đỗ Thị Ninh, người vợ mới cưới của tác giả.

Từ ngày cưới 16 tháng 2 đến ngày 29 tháng 5 cô Ninh mất là hơn 3 tháng.Số ngày cô sống bên chồng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Cô Ninh hay mặc áo tím và ông cũng đã có lần dẫn cô đi chơi lên những đồi hoa sim tím và ngẫu nhiên là dọc bờ sông nơi cô chết cũng mọc đầy những hoa sim tím

Về cái chết của người vợ trẻ, tài liệu ghi lại như sau: Ngày 29-05-1948, cô Ninh xuống sông Chuồng giặt giũ và chẳng may bị chết trôi dưới chân núi Nưa. Lúc đó, nhà thơ Hữu Loan làm trưởng ban tuyên huấn của sư đoàn 304 đóng ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Thương vợ, Hữu Loan viết “Màu tím hoa sim” với những con chữ rơi rơi y hệt dòng lệ thảm.

Trong bài thơ, nếu Hữu Loan nhắc đến nguyên nhân cái chết của cô Ninh (chết đuối) thì sức gợi cảm lan tỏa của bài thơ sẽ kém đi rất nhiều, và sẽ không là “bài thơ tình hay nhất thế kỷ 20” như ngày nay.

Tương tự với bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao. Ngư­ời con gái trong bài thơ là Trần Thị Bắc – một nữ du kích quê ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài (Xuân Dục – Đoài Đông), xã Phù Linh (còn gọi là Lạc Long), huyện Sóc Sơn (Hà Nội). Trên thực tế, cô đã có chồng chứ không phải mới có ngư­ời yêu như­ trong bài thơ. Nhưng tác giả đã hư cấu là người yêu của mình. Nhân vật trữ tình trong bài thơ đã hóa thân vào “vạn tấm lòng”, tình cảm riêng tư­ nâng tầm thành tình cảm cách mạng: Anh đi bộ đội sao trên mũ/Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

Tóm lại trong thơ, có những điều không nói nhưng mà nói (nếu có gì nói ra hết thì không còn là thơ nữa). Thơ cần gợi mở để người đọc liên tưởng, suy gẫm, cảm xúc…và phát hiện ra những ý nghĩa thú vị.

Như đã phân tích như trên, nếu bỏ đi khổ thứ 5 vẫn “có việc “tôi” và “em” như 2 người nam nữ đã lớn, nảy sinh tình cảm với nhau” chứ không như anh LNA nói.

Cuối cùng, theo tôi nếu trong nhà trường, giảng dạy phân tích bài thơ Quê Hương theo cách tách bạch như anh LNA (trong comment) sẽ làm thui chột khả năng cảm thụ văn chương của học sinh và việc học sinh không mặn mà với môn văn cũng là điều dễ hiểu.

VNT

MÀU TÍM HOA SIM

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

HỮU LOAN

NÚI ĐÔI

Bảy năm về trước em mười bảy
Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng
Xuân Dục, Đoài Đông hai nhánh lúa
Bữa thì anh tới bữa em sang.

Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh sao khéo thế
Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn
Ai ngờ từ đó mất tin nhau.

Anh vào bộ đội lên Đông Bắc
Chiến đấu quên mình năm lại năm
Mỗi bận dân công về lại hỏi
Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng.

Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi
Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
Mỗi tin súng nổ vùng đai địch
Sương trắng người đi lại nhớ người.

Đồng đội có nhau thường nhắc nhở
Trung du làng nước vẫn chờ trông
Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm
Em vẫn đi về những bến sông.

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi
Hành quân qua tắt đường sang huyện
Anh nhớ thăm nhà thăm Núi Đôi.

Mới đến đầu ao tin sét đánh
Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
Em sống trung thành chết thuỷ chung.

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn Đôi mà anh mất em.

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo
Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
Mấy năm cô ấy làm du kích
Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.

Từ núi qua thôn đường nghẽn lối
Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy
Sân biến thành ao nhà đổ chái
Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay.

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
Nứa gianh nửa mái lều che tạm
Sương trắng khuấy dần chuyện xót đau.

Anh nghe có tiếng người qua chợ
Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều
Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.

Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ
Oán thù còn đó anh còn đây
Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
Đã chết vì dân giữa đất này?

Ai viết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

VŨ CAO

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: